Danh mục
Số lượt truy cập
6,013,092

GS. Nguyễn Văn Lục - Từ bắt chước, cầm nhầm đến phỏng tác và đạo văn (p1)

26 Tháng Tư 20171:42 CH(Xem: 6060)
GS. Nguyễn Văn Lục - Từ bắt chước, cầm nhầm đến phỏng tác và đạo văn (p1)

Từ bắt chước, cầm nhầm đến phỏng tác và đạo văn (p1)

blankSau 1954, miền Nam có nhiều khoảng trống lắm! Trong đó có khoảng trống văn học. Dòng chảy văn học bản địa xem ra đã bị vượt qua. Dòng văn học hội nhập từ miền Bắc vào chưa được định hình!

Một mảng tối của văn học miền Nam: Từ bắt chước đến cầm nhầm đến phỏng tác và đạo văn

Vấn đề đạo văn trong bối cảnh sinh hoạt văn học miền Nam 1954-1975
Bối cảnh chính trị, xã hội và văn học miền Nam như thể ở chỗ bắt đầu. Cái cũ xem đã lỗi thời cần thay đổi, hoặc xô bồ, lộn xộn trong khi cái mới chưa định hình. Người ta sắn tay vào cuộc và mỗi người, bối rối tự tìm cho mình một lối ra – như một thí nghiệm, như một chứng tỏ sự có mặt hoặc sự vươn lên còn nhiều điều chưa thoả đáng.

Điều cấp thiết là phải có cái gì mà nếu nó mới lạ thì đó là điều tốt nhất. Mặc dầu phần lớn những tác nhân trong cuộc di cư còn non nớt về trình độ kiến thức, học thuật, về kinh nghiệm nghề nghiệp. Có lẽ chỉ có vài người lúc khi lên tầu “há mồm” vào miền Nam đã tạo được một chỗ đứng trong văn học là Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Phần còn lại đều là những tay mơ như Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Phạm Việt Tuyền, Thế Phong, Tạ Tỵ, Duy Thanh, Thái Tuấn phần đông chưa rời khỏi ghế nhà trường. Nhưng chắc khát vọng của họ, tiềm năng của họ có thể là ôm mộng lớn lắm khi có cơ hội.

Trường hợp Mai Thảo là một ví dụ điển hình.

Mai Thảo di cư vào Nam, việc cầm bút còn khập khiễng, chưa có tay nghề. Cuộc sống vật chất còn bấp bênh, bữa no bữa đói cơm hàng cháo chợ. Rồi có “duyên văn chương” gặp được người Mỹ đang kiếm người để tài trợ tiền bạc để làm văn hóa. Qua U.S. Information Service (USIS) hay còn gọi là U.S. Information Agency (USIA), một cánh tay của khối chiến tranh tâm lý dùng cho trong công tác tuyên truyền xám (grey propaganda thay vì white hay black propaganda. Trích: “CIA influence on public opinion”, wikipedia.org) đã tài trợ để Mai Thảo làm tờ Sáng Tạo, và những người khác phụ trách các ấn phẩm khác như bán nguyệt san “Gia Đình” thay cho tập san Trẻ, sẽ do USIS in ở nước ngoài để phát hành tại miền Nam hay nguyệt san “Tập Nghiên cứu Chính trị” với mục đích chính là diễn đàn đấu tranh chống lại ý thức hệ cộng sản quốc tế dó Sở Nghiên cứu Chính trị phụ trách (Trần Kim Tuyến?)

(Lữ Phương, “Cuộc xâm lăng về văn hoá và tư tưởng của đế quốc Mỹ tại miền Nam Việt Nam”, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1981, trang 216 đến tr. 222).

Tương tự, qua trung gian Trần Kim Tuyến, Lý Hồng Phong với tờ Văn Nghệ, tờ Hiện Đại của Nguyên Sa, tờ nhật báo Tự Do của Phạm Việt Tuyền. Tiền người Mỹ bỏ ra có hiệu quả ứng dụng tốt. Các nhà văn, nhà báo di cư đã có chỗ dụng võ và họ đã làm nên chuyện, tạo được tên tuổi và có thể nói một dòng học văn học mang sắc thái miền Bắc như một chuyển trục từ Bắc vào Nam. Nhờ đó, khích động một không khí sôi động, phấn khởi như chất súc tác cho toàn thể sinh hoạt văn học miền Nam nói chung.

Người Mỹ tài trợ mà không can thiệp trực tiếp. Kẻ nhận được tài trợ như Mai Thảo coi như làm chủ tờ báo về mọi mặt từ nội dung bài vở đến chọn lựa người cộng tác.

blank

Tranh cổ động do USIA ấn hành dùng cho quân đội VNCH (1950s). Record Group 306
Records of the U.S. Information Agency, 1900-2003
Still Pictures Identifier: 306-PPB-79c

Đến ngay tờ Thế giới Tự Do do Sở Thông tin văn hóa Hoa Kỳ (USIS) đảm trách cũng có kết quả tốt đẹp. In ấn đẹp, trang nhã, giấy tốt, rất nhiều hình ảnh đi kèm, bài vở ngắn gọn, nhẹ nhàng mang tính chất thông tin lạc quan về một cuộc sống mới với những thành tựu không chối cãi được với những căn nhà khang trang sạch sẽ, những ngôi trường mới với trẻ con đến trường tươi vui, hớn hở, những ngôi nhà thờ xinh xắn. Tôi còn nhớ những giếng nước do máy bơm tay tiện nghi, sạch sẽ mà không còn vất vả dùng gầu để múc nữa. Nhiều gia đình di cư còn cắt những hình ảnh trong tờ báo để treo lên tường. Tờ báo nói lên sự phát triển, những thành quả đạt được của người di cư, gián tiếp dạy họ lối sống mới, giữ gìn vệ sinh nhà cửa, nếp sống văn minh tối thiểu. Hẳn nhiều người dân di cư 1954 vẫn còn nhớ hai câu lục bát trong phim ảnh và bích chương cổ động thời đó:

“Anh Nam uống nước lọc chai,
Mỗi ngày ba cốc chẳng sai cốc nào.”

Đó là thành quả thứ hai của văn hóa vụ của người Mỹ.

Bên cạnh đó, chính phủ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm cũng xử dụng Bộ thông tin và qua bộ này, có cơ quan Văn hóa vụ mới đầu do Lê Quang Luật, rồi Phạm Xuân Thái thay thế chức tổng trưởng Thông tin. Bộ này đã ra hàng loạt các Nghị Định để cho ra các tờ báo mới như các Nhật báo Cải Cách, Gió Mới, Trẻ rồi Nhân Sinh, Lửa Việt (do sinh viên làm), Dân Chúng, Trách Nhiệm (ngoài Huế), nhật báo Tương Lai, Đại Chúng, vv.. (Trần Trọng Đăng Đàn, “Văn Hóa, Văn Nghệ Nam Việt Nam 1954-1975”, nxb Văn Hóa-Thông Tin)

Rầm rộ như thế, rồi không biết vì những lý do gì, các tờ báo ấy biến mất để được thay thế bằng các tờ khác.

Chính phủ muốn những nhà báo, nhà văn di cư — chưa có đủ tiền bạc để ra báo như các báo tư nhân của miền Nam đã có sẵn như các tờ Tiếng Chuông, Sai Gòn, Điện Tín — đảm nhận vai trò thông tin, nhất là vai trò chính trị trong chính sách chống Cộng của chính phủ.

Tuy nhiên, đường lối này không mấy đạt kết quả vì nhiều lẽ. Những vị chủ bút, chủ nhiệm không có thực tài, không phải là những người cầm bút có tiếng tăm. Người trách nhiệm viết bài vở phải viết theo đường lối chính phủ, theo lối “đơn đặt hàng”, một hình thức gián tiếp của thứ văn nghệ chỉ huy. Việc kiểm duyệt chỉ tô đâm thêm tính chất nghèo nàn, nhàm chán, một chiều và dần người đọc không đọc những tờ báo này nữa.

Trong số các tờ báo liên quan đến bài viết này, có tờ Văn Hữu mà trong Nghị Định cho xuất bản có ghi như sau:

“Tạp chí văn hữu nhằm mục đích phát huy văn hóa dân tộc, phổ biến rộng rãi chủ trương, đường lối của chính phủ” và quy điịnh rằng: tạp chí này phải do vụ trưởng Vụ Văn Hóa của Bộ Thông Tin làm chủ nhiệm cùng với một chủ bút do Bộ trưởng chỉ định”

(Trần Trọng Đăng Đàn, ibid., trang 82)

Ngoài ra, còn có tờ Sinh Lực do Uyên Thao giữ chức vụ Tổng thư ký.

Trong quân đội thì có tờ Chỉ Đạo do Bộ Quốc Phòng trách nhiệm. Người đứng đầu tạp chí Chỉ Đạo lúc đầu là Trung Tá Trần văn Trung làm chủ nhiệm và Trung úy Ngô Quân làm chủ bút. Tiếp theo là Trung tá Nguyễn văn Châu làm chủ nhiệm. Chủ bút lần lượt sau đó là Kỳ Văn Nguyên, Nguyễn Mạnh Côn, Đào Đình Hoan, Nguyễn Đình Bảo thay nhau làm. (Trần Trọng Đăng Đàn, ibid., trang 83)

Chính trong cái hoàn cảnh đặt để những người không có tài cán vào các chức vụ chỉ huy tờ báo như chủ nhiệm, chủ bút đã gây rắc rối thêm trong số lãnh đạo của một số tờ báo, cố tình bao cho kẻ đạo văn là Hoàng Trong Miên cũng như sự cố tình trù dập những người đứng ra tố cao chuyện đạo văn.

Tờ Văn Hữu trở thành công cụ của chính quyền với nhiều bài vở tuyên truyền về Dân Vệ Đoàn, sau này là Nghĩa quân.

Khái niệm đạo văn trong truyền thống văn hóa Việt Nam

Cho đến năm 1975, hầu như dân miền Nam cũng như trí thức miền Nam vẫn chưa có một khái niệm rõ rệt và ứng xử đúng đắn về quyền sở hữu trí tuệ dù đã có khung pháp lý bảo vệ quyền sở hữu ấy từ thời còn là thuộc địa Pháp — khi Đông Dương (Việt Nam, Cam Bốt, Lào) ký tôn trọng Luật Paris 1949. Trong khoảng từ 1957 đến 1975 Việt Nam Cộng hoà đã có luật cầu chứng, phát chứng chỉ bản quyền, cũng như bằng sáng chế cho sản phẩm trong và ngoài nước. Đến sau tháng 4 năm 1975, chính quyền cộng sản đã xoá bỏ tất cả quyền sở hữu tư nhân kể cả sở hữu trí tuệ.

(Elizabeth F. Vann, “The Limits of Authenticity in Vietnamese Consumer Markets”, American Anthropologist, Vol. 108, No. 2 (Jun., 2006), pp. 286-296 – trang 269)

Những người sống và lớn lên trong xã hội chủ nghĩa trước 2004 (khi CHXHCN Việt Nam ký công ước Berne) không tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ là điều có thể hiểu được, nhưng hành động đó của người miền Nam trước năm 1975, nhất là thành phần trí thức, là điều rất khó có thể khoan nhượng.

Một nhạc sĩ tài danh như Phạm Duy, sáng tác đến cả 1000 bản nhạc đủ loại, đã đã phổ nhạc bằng cách lấy những bài thơ của nhiều tác giả mà không thương lượng, không xin phép, không ghi tác giả lời ca, dù có đủ điều kiện để làm việc đó. Tên tuổi các nhà văn, nhà thơ bị Phạm Duy xử dụng tài sản trí tuệ không biết bao nhiêu mà kể; có thể nói có rất nhiều bản nhạc Phạm Duy lấy thơ văn của nhiều tác giả, rồi tự ý sửa đổi, cắt xén. Có những nạn nhân như một người tình bé nhỏ tên Alice, con gái một người tình cũ của ông. Alice đã làm khoảng 300 bài thơ tặng ông và trở thành nguồn cảm hứng bất tận với những bản tình ca để đời như: Ngày đó chúng mình, Kiếp nào có yêu nhau nhau.

Xin trích dẫn vài câu thơ làm bằng chứng:

“Ngày đó có bơ vơ lạc về trời
Tình trên mây xa khơi có áo dài khăn cưới.
Ngày đó có kêu lên gọi hồn người
Trùng dương ơi có xót xa cũng hoài mà thôi.”

Vậy mà Alice đã không có một chỗ đứng đáng lẽ phải có trong âm nhạc Phạm Duy, phải dành cho cô. Đây có lẽ là cái tệ bạc nhất của con người Phạm Duy.

Nói chi đến những Nhất Hạnh, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bính, Cung Trầm Tưởng, Hữu Loan, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu và rất nhiều người khác.

Tuy nhiên, một trong những tác giả bị Phạm Duy xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên, đã kiện Phạm Duy trước tòa án để đòi trả tác quyền của những bài thơ của ông mà Phạm Duy đã phổ nhac. Tòa án đã quyết định buộc Phạm Duy phải trả 6000 đồng cho Nguyễn Tất Nhiên.

Không hiểu ông tòa đã căn cứ trên điều luật hay án lệ nào để đòi Phạm Duy trao 6000 đồng cho Nguyễn Tất Nhiên? Tuy nhiên, quan trọng hơn, đó là một án lệ về sự bảo vệ quyền tài sản tri tuệ của người sáng tác.

Tuy nhiên, có nhiều mức độ “cầm nhầm” mà rất khó để có thể công khai kết án là đạo văn. Chẳng hạn, tôi còn nhớ trường hợp nhà văn Chu Tử viết cuốn “Yêu” khá là ăn khách và trở thành một “hiện tượng trong văn học” vì tính cách bạo dạn và quá lãng mạn của nhân vật truyện. Nội dung câu chuyện với hai nhân vật là chú Đạt và cháu Diễm mà tuổi hai bên chênh lệch như bố với con. Khi đọc truyện này, một cách dứt khoát, tôi liên tưởng đến chuyện của F. Sagan với Luc và Dominique. Có một sự giống nhau như thể một “bản sao”. Nhưng giữa bản sao và bản chính là hai chân trời văn học, một bên tây, một bên ta, với hai thứ ngôn ngữ khác biệt. F. Sagan chắc hẳn là không màng tới chuyện cỏn con này.

Tôi đã đọc và viết về Francoise Sagan nên nghĩ rằng, Chu Tử chỉ bắt chước được cái bèo bọt hiện tượng bề ngoài của F. Sagan, tức là chuyện tình ái lăng nhăng. Phải có hiểu biết triết lý hiện sinh, phải thấm nhuần, phải hiểu nhiều cái phải lắm mới hiểu tại sao F. Sagan đã sống nổi loạn. Một số nhà văn nữ của miền Nam sau đó cũng bắt chước “cái mốt hiện sinh”, phóng túng quá độ trong việc mô tả các cuộc làm tình như thể đó là cuộc đời đích thực. Tôi đã chẳng ngần ngại gì trong một bài viết khác, gọi chung đó là Những đứa con hoang của J.P. Sartre.

Theo tôi, muốn hiểu Sagan, phải biết về cuộc đời của bà!

Đã có lần bà viết:

“Pour moi, le bonheur, c’est d’abord d’être bien.” (Hạnh phúc, đối với tôi trước hết là được an vui.)

(Nguyễn Văn Lục, “Francoise Sagan: Adieu Trístesse: con người, cuộc đời, tác phẩm” http://newvietart.com/index4.27.Hoàng Trọng Miênl

Phần người đọc Việt Nam, công đâu mà tra dò tìm hiểu. Nhưng tôi là người đọc cả hai tác giả thì cảm thấy không vui và coi thường Chu Tử. Và F. Sagan không có mục đích mô tả những cảnh làm tình như một thỏa mãn, hay một khêu gợi. Cuộc đời không có gì quan trọng, ngay cả cả chuyện làm tình, luân lý cũng vậy. Cuộc đời trong một ngày, một tháng, một năm có gì là lạ, thản nhiên, vô cảm.

(Nguyễn Văn Lục, “F. Sagan”, Hợp Lưu số 79)

Một trường hợp khác không “cầm nhầm”, nhưng chỉ dựa trên cốt truyện của tác giả ngoại quốc, rồi “phóng tác” ra một tác phẩm khác. Đây không phải là dịch, vì dịch thuật đòi hỏi người dịch phải có căn cơ, rành cả ngoại ngữ lẫn tiếng Việt. Chỉ cần một trìnhđộ ngoại ngữ đọc hiểu câu truyện là có thể phóng tác, chỗ nào khó quá thì bỏ, chỗ nào cần thêm “mặn nhạt” thì gia vị tùy tiện. Đó là trường hợp nhà văn Hoàng Hải Thủy với nhiều truyện phóng tác như cuốn Đỉnh Gió Hú. Nội chữ Đỉnh và chữ Đồi đã giúp Hoàng Hải Thủy tránh né được biết bào phiền toái của công việc dịch thuật.

Trong cách trình bày bìa sách, Hoàng Hải Thủy lại chứng tỏ một sự mập mờ khôn vặt đáng nể. Trong cuốn Kiều Giang, xuất bản lần đầu tiên, Hoàng Hải Thủy đề tên Hoàng Hải Thủy chình ình trên đầu sách bắt buộc người đọc hiểu ngầm, chính ông là tác giả. Cộng thêm chữ Kiều Giang như tựa đề cuốn sách. Tên Charllote Brontë , khổ chữ nhỏ nằm khiêm tốn, không để ý thì không nhận ra! Có lần, ông còn cẩn thận cho tên tác giả người Anh nằm ở trang trong. Thật chu đáo và cẩn thận!

blank

Kiều Giang – Hoàng Hải Thủy phóng tác từ tiểu thuyết Jane Eyre của Charlotte Bronte – Ngày xanh XB

Cho đến bây giờ tôi vẫn cảm thấy không ổn hai chữ phóng tác. Phóng tác phải chăng nằm giữa sáng tác và dịch thuật? Nó không phải sáng tác mà cũng không phải dịch thuật. Nó có vi phạm luật bản quyền không? Có cần xin phép khi phóng tác không?

Nếu cứ như thế thì chỉ cần biết chút tiếng Anh hay tiếng Pháp, ta phóng tác các tác phẩm được giải Nobel và chẳng mấy chốc, sẽ có tất cả Nobel thế giới trong văn học Việt Nam?

Tôi không tự tin vào khả năng phán đoán của mình nên dở sách hỏi đàn anh Võ Phiến. Trong Văn Học miền Nam, Truyện 1 và truyện 2, tôi không thấy có tên Hoàng Hải Thủy! Chẳng biết ý của Võ Phiến như thế nào vì nay cụ đã không còn nữa để hỏi!


(Còn tiếp)


Nguyễn Văn Lục

Nguồn: DCVOnline

13 Tháng Chín 2020(Xem: 186)
Tôi nhớ ơn anh chị, và cả vợ chồng anh Hy, chịu đựng được chúng tôi, mà không đấm cho vỡ mồm, hộc máu mũi. Càng lâu, tôi càng thấm thía cái câu ‘ Bầu bí một giàn’ của anh Hy nói ngày xua.”
12 Tháng Chín 2020(Xem: 282)
Viết vài dòng này để tạ tội với dì tôi đã một thời mù đôi mắt vì tình lụy và nhất là tạ tội với ông Nghị Nguyễn Bá Kỳ vì tôi đã hiểu lầm ông. Hắt hơi là tình hận chứ không phải muốn hù dọa, khoe danh.
11 Tháng Chín 2020(Xem: 525)
Niềm vui lớn nhiều khi chỉ đơn giản tạo thành từ tấm lòng và sự quan tâm hàng ngày dành cho người khác.
11 Tháng Chín 2020(Xem: 160)
Chiều vàng Thu, chập chờn đôi cánh én, Triền National Parks lá ửng Thu hồng! Có phải Thu, ngoài song cửa đó không? Ta mong chờ, làn gió Thu dịu mát!
10 Tháng Chín 2020(Xem: 216)
Hầu như người Mỹ nào ít nhất cũng một lần nghe hay nói đến tên ông, Ernest Hemingway, nhà văn người Mỹ nổi tiếng đoạt giải Nobel văn chương năm 1954.
05 Tháng Chín 2020(Xem: 354)
Ngày cùng má đi dạo phố cũng là ngày cuối cùng tôi được hạnh phúc bên má, cũng là chuyến xe cuối cùng tôi được cùng má ngắm hoa.
05 Tháng Chín 2020(Xem: 263)
Tôi chắc mẹ tôi sẽ nhận ra tôi, bà nhận ra tôi bằng trái tim muôn kiếp của người mẹ. Còn tôi, tôi cũng sẽ nhận ra mẹ tôi, tôi nhận ra bà từ bản năng của thằng ăn hại.
04 Tháng Chín 2020(Xem: 611)
Người Mỹ thì sắp khép lại mùa hè rất buồn với ngày Lễ Lao Động (thứ hai đầu tháng 9 hàng năm) không đem lại niềm vui cho hầu hết mọi người.
29 Tháng Tám 2020(Xem: 397)
. Các Tăng Ni dù không được tập trung cầu nguyện như những mùa Vu Lan trước, nhưng năm nay bà Tâm tin tưởng Thầy, Sư Cô và các vị Sư sẽ trì chú tụng kinh nhiều hơn ở mỗi đêm.
27 Tháng Tám 2020(Xem: 763)
Nhìn hình em bé một tay cầm viết chì, một tay kéo áo chùi nước mắt, chúng tôi cũng chạnh lòng thương em bắt đầu cuộc đời học trò trong "sương mù" của hoài nghi, với hình ảnh cô giáo mờ nhạt, ẩn hiện qua màn hình.
21 Tháng Tám 2020(Xem: 739)
Nếu thế kỷ trước, tiền nhân đã sống còn sau gần 18 tháng bị cúm Tây Ban Nha tấn công thì ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển hơn, chắc chắn là sẽ có một ngày cúm Tàu sẽ phải cuốn gói ra đi.
21 Tháng Tám 2020(Xem: 463)
Thế mà giờ đây. Hơn nữa năm qua tiệm phải đóng cửa vì dịch bịnh đã làm cho chị gần sạt nghiệp. Giờ đây chị lại một mình đứng hớt trên lề đường.
15 Tháng Tám 2020(Xem: 825)
Từ hoàn cảnh đau lòng của cô Alvarez ở đất nước Peru nghèo khó thuộc Nam Mỹ, chúng tôi bỗng liên tưởng đến những người dân lao động ở quê nhà đang có chiều hướng bị COVID-19 tấn công lần thứ hai (second round). Từ ngàn dặm, xin góp phần cầu nguyện cho đồng bào ở Việt Nam.
14 Tháng Tám 2020(Xem: 561)
Sau khi xem xét tất cả các điều kiện khách quan và thẩm định tình hình trong cộng đồng của chúng tôi, chúng tôi quyết định giữ các cô con gái của mình ở nhà, không cho các cháu đến trường trong thời điểm này.
09 Tháng Tám 2020(Xem: 675)
Con tạ ơn Thầy Cô đã cho chúng con qua sông yên bình, cho chúng con có căn bản đạo đức và kiến thức làm người hữu dụng. Ở nơi xa không thể về đốt hương tưởng niệm. Con xin kính gửi đến Thầy cô tất cả lòng kính yêu trân trọng nhất.
08 Tháng Tám 2020(Xem: 748)
Mùa thu hoạch năm 2020, các chủ nông trại có thể không thu được đồng nào nhưng họ đã gặt hái được niềm vui mà không có một số tiền nào, dù lớn đến đâu, có thể mua được.
02 Tháng Tám 2020(Xem: 904)
chuyện trò với con, lắng nghe con nói, để thấu hiểu, để cảm thông và để chia sẻ buồn vui với con. Qua đó, tạo cho con những dấu ấn kỷ niệm nhẹ nhàng để kết nối thêm tình cảm gắn bó giữa cha mẹ & con cái trong gia đình.
02 Tháng Tám 2020(Xem: 760)
Cũng như hết mùa hè mùa Thu sẽ đến. Cháu tôi không được đến trường nhưng vẫn được học online. Những đóa hoa của vườn hồng Portland cũng sẽ héo tàn, nhưng những nụ hoa mới sẽ mọc lên, thay thế và rực rỡ vào mùa Xuân tới.
31 Tháng Bảy 2020(Xem: 806)
Theo International Air Transport Association (IATA), vì di hại của COVID-19, ngành hàng không sẽ không trở lại mức độ bình thường cho đến năm 2024.
27 Tháng Bảy 2020(Xem: 830)
Ngày sinh nhật này có ý nghĩa lớn lao đối với em. Em sẽ dành cho chồng em những gì lãng mạn nhất để chuộc lỗi lầm..Đương nhiên em sẽ giấu kín như bưng chuyện ngày hôm qua, một ngày vô vị nhất trong cuộc đời em. Tất cả điều tồi tệ xảy ra vì em đã quá GHEN.