Danh mục
Số lượt truy cập
5,589,176

GS. Huỳnh Công Ân - TỪ SÀI GÒN ĐẾN MONTRÉAL, NỔI TRÔI THEO VẬN NƯỚC (Chương V)

26 Tháng Tư 20199:12 CH(Xem: 759)
GS. Huỳnh Công Ân - TỪ SÀI GÒN ĐẾN MONTRÉAL, NỔI TRÔI THEO VẬN NƯỚC (Chương V)

Chương 5- Nhng năm tháng  Biên Hòa và Sài Gòn trưc năm 1975

Ân_Thầy HUỲNH CÔNG ÂN
 

Rời Trà Vinh để  đến Biên Hòa nhận nhiệm sở mới: trường trung học Ngô Quyền, tôi thấy mình  thanh thản vì cũng đã đóng góp phần mình cho quê ngoại. Sau này, khi về thăm lại Việt Nam tôi đã thấy nhiều người từng là học trò của tôi thành công trong cuộc sống. Có người là giáo sư đại học, bác sĩ, dược sĩ, luật sư, kỷ sư, sĩ quan hải quân cao cấp của Canada, doanh nhân thành công trong thương trường hay ít nhứt cũng làm thầy, cô giáo như tôi. Trà Vinh là nơi ghi lại những kỷ niệm đầu đời dạy học của tôi, Biên Hòa sẽ là nơi cho tôi cơ hội phát triển nghề nghiệp của mình vì gần thủ đô Sài Gòn, trung tâm hành chánh, văn hóa và kinh tế của miền Nam Việt Nam. Mục tiêu của một người Sài Gòn như tôi dĩ nhiên là phải trở về làm việc tại nơi mình lớn lên, vui chơi, học hành và đỗ đạt, Biên Hòa sẽ là cây cầu nối trên con đường mơ ước mà tôi muốn đi.


image002

Tuy Biên Hòa chỉ cách Sài Gòn có 30 km nhưng mãi tới khi lên trường  trung học Ngô Quyền để trình sự vụ lệnh và nhận nhiệm sở  tôi mới biết được thành phố lớn nhứt của miền Đông này. Biên Hòa là một thành phố êm đềm với những hàng cây cao nằm bên dòng sông Đồng Nai. Thành phố được nối liền với thủ đô Sài Gòn bằng 3 cây cầu: cầu Gành qua quốc lộ 1, cầu Đồng Nai qua xa lộ Sài Gòn-Biên Hòa và cầu Hóa An qua xa lộ Đại Hàn. Biên Hòa là nơi tập trung những cơ quan hành chánh, quân sự và khu phát triển kinh tế của miền Đông. Biên Hòa còn có  có một phi trường quân sự nhộn nhịp nhứt nước và một kho tiếp liệu lớn nhứt ở miền Nam trong thời chiến: tổng kho Long Bình. Biên Hòa là cửa ngỏ từ Sài Gòn dẫn đi vùng duyên hải Bà Rịa, Vũng Tàu qua quốc lộ 15;  miền Trung qua quốc lộ 1 và vùng cao nguyên qua quốc lộ 20. Sau này, để thực hiện kế hoạch tản quyền, bộ Giáo Dục chia miền nam thành 4 khu học chánh song song với cách chia bên quân sự và Biên Hòa là nơi đặt văn phòng của Khu 3 Học Chánh mà người đứng đầu là bạn tôi: anh Lê Tấn Lộc được điều động từ trường trung học Trịnh Hoài Đức, Bình Dương, nơi anh đang làm hiệu trưởng. Nhưng sau này, không hiểu sao bộ Giáo Dục lại bải bỏ các khu Học Chánh, cho tản quyền xuống cấp tỉnh, thành lập sở Học Chánh rồi đổi thành ty Giáo Dục để phụ trách tất cả các trường trung học và tiểu học trong tỉnh.

Ông Phạm Đức Bảo, hiệu trưởng trường trung học Ngô Quyền Biên Hòa là một người to con, có dáng  dấp một võ sĩ hơn là một giáo sư. Ông tiếp nhận sự vụ lệnh của tôi và ân cần hỏi thăm về thân thế của tôi. Khi biết gia đình tôi ở Sài Gòn, ông nói sẽ nhờ ông giám học Phạm Khắc Thành xếp 17 giờ dạy của tôi gọn trong hai ngày liên tiếp, để tôi có thể kiếm thêm giờ dạy ở các trường tư  Sài Gòn. Ông thông cảm cho hoàn cảnh công chức trong thời kỳ lính Mỹ đổ sang Việt Nam đông đảo làm giá sinh hoạt tăng cao, lương chúng tôi không bằng thu nhập của những người làm sở Mỹ. Thế là tôi chỉ dạy trên Biên Hòa có hai ngày thứ hai và thứ ba đầu tuần. Sáng thứ hai tôi chạy xe honda 67 theo ngả xa lộ, quẹo trái ở ngả ba Tân Vạn, quẹo mặt lên cầu Gành để đến trường. Đêm thứ hai tôi ngủ ở nhà anh Chữ, con người bác tôi có nhà gần trường Ngô Quyền, đối diện cổng số 2 của phi trường. Anh Chữ làm quân cảnh trong phi trường Biên Hòa, sau này được cấp nhà gần ga xe lửa, để nhà ngoài mặt đường cho chị Cúc, người chị thứ ba của anh. Tôi lại theo anh ngủ đêm ở đó. Về sau em trai tôi, học lái máy bay từ Mỹ về, làm phi công trực thăng ở phi trường, thuê nhà cũng ở gần trường ở với vợ và đứa con gái mới sanh. Tôi lại về ngủ một đêm ở nhà em tôi.

Những ngày còn lại trong tuần, ở Sài Gòn tôi được bạn bè giới thiệu vào dạy một số trường tư. Tôi dạy trường Tân Văn ở đường Trần Quý Cáp gần chợ Đũi và Tân Việt ở đường Yên Đổ gần công trường Dân Chủ mà giám đốc là anh Nguyễn Lung.  Anh Lung cũng là giáo sư toán, trước mở các cours luyện thi, sau mướn hiệu trưởng để mở hai trường đó.  Trường tư ngày trước giống như các nhà thuốc tây, ai có tiền thì mở trường mướn một người có bằng cấp đại học để xin giấy phép. Nghe nói người đứng tên hiệu trưởng trường Tân Văn là luật sư Lê Đại Toàn, anh của tài tử Lê Quỳnh. Thỉnh thoảng vào buổi sáng, anh Lung thường lấy xe Peugeot 403 chở chúng tôi đi ăn cơm tấm Trần Quý Cáp. Nguyễn Lung có một người vợ thật đẹp là bạn của nữ minh tinh Thẩm Thúy Hằng. Sau này sau khi định cư ở Pháp, anh Lung và vợ đã thôi nhau.

Trường Tân Văn có cơ sở là một ngôi biệt thự, cạnh trường Anh văn Nguyễn Ngọc Linh, có tường bao bọc chung quanh. Trong sân trường có một cây cổ thụ mà tàng cây che bóng mát cho phía dưới suốt ngày. Giám học trường Tân Văn là anh Lê Văn Bảy, anh ruột của thiếu tá Lê Văn Tám trưởng cuộc cảnh sát ở cạnh trụ sở Quốc Hội. Giờ chơi, anh thường cùng các giáo sư chúng tôi như anh Lê Tấn Lộc dạy Triết, anh Tôn Thất Trung Nghĩa dạy Vạn Vật, anh Tạ Ký dạy Quốc Văn, anh Lâm Võ Quỳnh dạy Pháp Văn, thầy ba Cô tổng giám thị và tôi ngồi quanh cái bàn dưới gốc cây uống bia hay cognac. Anh Bảy đi cà nhắc vì mất một chân phải đi bằng chân gỗ nên thường được gọi là Bảy vẹo. Anh thường nói với chúng tôi anh mất chân trong trận Điện Biên Phủ. Lúc đó tôi nghĩ anh đi lính cho Pháp thời đó nên bị thương phải cưa chân. Sau năm 75, khi tôi đi cải tạo về mới nghe bạn bè nói anh Bảy đang làm việc ở sở công an thành phố tôi mới biết mình đã đoán sai. Một hôm, tôi đang ngồi ở nhà thì anh đến hỏi tôi: mày muốn dạy luyện thi đại học không?  Lúc đó tôi đang dạy ở trường Nguyễn Trãi, để kiếm thêm tiền tôi nhận lời. Anh Bảy dẫn tôi lên trường Anh Văn Nguyễn Ngọc Linh cũ để dạy lớp luyện thi vào đại học công an. Tình cờ tôi được biết anh Nguyễn Trung Hiếu bạn dạy chung ở Trà Vinh của tôi  cũng dạy Vạn Vật cho lớp đó. Anh Bảy còn cho phiếu tôi vào sở công an đổ xăng cho chiếc xe Lambretta của tôi.

Cả hai trường Tân Văn và Tân Viêt đều có mở những lớp học ban đêm cho người lớn học để thi Tú Tài, đa số học viên là công chức và quân nhân. Họ đã  dang dỡ việc học vì phải đi làm hay đi lính, họ đi học lại buổi tối với hy vọng kiếm được mảnh bằng để tiến thân trong công việc hay trong quân ngũ. Tôi và các bạn đồng nghiệp trong nhóm "ve chai" (anh Lâm Vó Huỳnh có lần giới thiệu liên hệ giữa tôi với anh cho một người bạn Tây của tôi trong một lần uống bia ở tiệm phở Hòa, đường Côte Des Neiges ở Montréal là "camarades de bouteille", anh Huỳnh là người có óc hài hước), thường gặp nhau ở kiosque bán rượu của chị Tư tại chợ Đũi trong những giờ nghỉ hay sau giờ dạy ở trường Tân Văn.  Khi đã ngà ngà say thì anh Huỳnh đọc thơ tiếu lâm, tôi còn nhớ câu "Gió lộng buồm căng lộn cái lèo" trong một bài thơ anh đọc. Tạ Ký thì ngâm Thơ Say của Vũ Hoàng Chương hay Sầu Ở Lại của anh, giọng ngâm của nhà thơ xứ Quảng khi đã ngà say nghe thật buồn não nuột. Sau này có anh Trần Thế Anh, giáo sư tư thục cũng gia nhập vào nhóm và khi say thường đọc hai câu thơ của Thâm Tâm: "Đưa người, ta không đưa sang sông. Sao có tiếng sóng ở trong lòng".  Anh Lê Tấn Lộc vừa rước con đi học về cũng ghé ngang, để con trên xe hơi trước kiosque  của chị Tư xáp lại với anh em. Nhóm chúng tôi còn có thầy tư Kiệt, quản lý trường Thượng Hiền, cũng trên đường Trần Quý Cáp, đối diện trường Tân Văn. Trường này là của giáo sư Nguyễn Văn Khuê, sau khi bán trường Nguyễn Văn Khuê ở chợ Cầu Muối cho Giáo Hội Phât Giáo năm 1964, đổi tên thành trường Bồ Đề, ông Khuê đi qua Pháp sống để lại trường Thượng Hiền cho giáo sư Hải làm giám đốc khai thác nhưng thầy Kiệt là em họ của ông Khuê thay mặt ông quản lý trường này. Còn tối nào dạy ở trường Tân Việt, chúng tôi thường kéo nhau ra ăn uống ở các quán ăn góc đường Yên Đỗ và Nguyễn Thông.  Có lần, sau khi "làm" một vài chai với các bạn, tôi trở về trường dạy tiếp. Khi tôi vẽ hình tròn trên bảng đen để giải một bài toán hình học và hỏi cả lớp: "các anh chị có thấy gì không?" (đây là lớp người lớn nên tôi không gọi bằng các em được) thì tôi nghe ngoài cửa số có tiếng nói lớn:"thấy cái chai!".  Thì ra anh Tôn Thất Trung Nghĩa dạy lớp bên cạnh đang đứng tỳ tay trên thành cửa sổ nói vọng vào. Tôi rất phục anh Nghĩa vì ngoài những giờ dạy học, chơi bời với bạn bè không biết anh còn thì giờ đâu để học đậu bằng tiến sĩ Luật và dạy ở đại học Luật Khoa .Sau năm 1975, Tôn Thất Trung Nghĩa định cư ở Ý và mất ở đó. Năm 1979, Tạ Ký qua đời ở Chợ Mới, An Giang. Anh Lâm Võ Huỳnh mất năm 2017 ở Montreal. Thầy ba Cô, anh Trần Thế Anh mất ở Việt Nam. Anh Bảy vẹo, thầy tư Kiệt thì tôi không biết nay còn hay mất ở Việt Nam. Anh Lê Tấn Lộc thì hiện ở Montréal với tôi. Còn nhớ khi tôi mới tới định cư ở Montréal, được biết anh Lộc cũng ở đây tôi nhờ Khiêm, một đàn em của tôi chở tôi lên khu Dollard Des Ormeaux xa xôi trong một đêm bão tuyết tim tận nhà anh để kéo anh về quán Long Mỹ nhậu một chầu tái ngộ nơi xứ người. Năm 1992, anh đã chở tôi  lên phi trườmg Mirabel đón vợ con tôi từ Việt Nam qua đoàn tụ với tôi.

Sau này tôi thuê phòng học ở trường Thượng Hiền của thầy tư Kiệt để mở các lớp luyện thi Tú Tài. Ngẫu nhiên thay, ông Thắng thư ký trường Thượng Hiền, người mà tôi nhờ thu tiền học phí học sinh cho tôi, sau 75 lại là chủ tịch Ủy ban nhân dân phường 9, quân 3. Ông đã giúp vợ chồng tôi mở một quán ăn ở đường Trần Quý Cáp gần đường rầy xe lửa dưới bảng hiệu Cửa hàng ăn uống của hợp tác xã phường 9 trong năm 1984. Lúc bán quán ăn ở đây, tôi lại gặp anh Ngự trước 75 cùng dạy với tôi ở một số trường tư là chủ tịch phường 8, quận 3 bên cạnh phường 9 của ông Thắng. Sau này khi về Việt Nam chơi tôi nghe bạn bè kể lại anh Ngự sau làm chủ tịch hợp tác xã quận 3 và nay đã mất. Còn một người bạn khác cũng dạy chung trường tư với tôi là anh Lê Nguyên sau 75 là cán bộ phòng giáo dục Quận 5. Anh Nguyên cũng đã mất trong một tai nạn lưu thông ở Việt Nam không lâu sau năm 1975.

Ban đầu , tôi đi dạy trên Biên Hòa bằng xe Honda 67. Sau này thấy nhiều tai nạn trên xa lộ quá khủng khiếp, tôi đổi sang đi lambetta hai bánh, có khi tôi để xe ở nhà mà đi xe lửa an toàn nhứt. Ở trường Ngô Quyền, tôi có dạy một lớp 12B, trong đó có hai nhân vật mà tên đã đi vào văn học Việt Nam: nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên và cô Bắc Kỳ nho nhỏ tên Duyên. Nguyễn Tất Nhiên với lối sử dụng ngôn từ độc đáo đã làm những bài thơ tuyệt tác mà giới trẻ thâp niên 70 ở Sài Gòn không ai mà không thuộc. Sau khi nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc một số bài thơ của Nhiên thì tên tuổi của Nhiên gắn liền với những câu hát:"Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ. Này cô em tóc demi garcon" hay:"Thà như giọt mưa rớt trên tượng đá" ...Tôi còn hình dung được vẻ rụt rè của anh học trò Nguyễn Hoàng Hải (tên thật của Nguyễn Tất Nhiên) khi lên bàn giáo sư tặng tôi tác phẩm đầu tay tựa là "Thiên Tai", lúc đó tôi đâu có thể ngờ sau này Hải trở thành một nhà thơ nổi tiếng như vậy. Còn Bùi thị Duyên là một cô nữ sinh duyên dáng và có nét lãng mạn thu hút. Hèn chi anh chàng thi sĩ của tôi phải thất tình vì cô ấy và nhờ đó mà hồn thơ mới lai láng. Đầu năm 1975, một đêm tôi dạy xong lớp đêm ở trường Cô Giang, đường Trần Hưng Đạo, ra cổng tôi gặp Nguyễn Tất Nhiên đứng bên cạnh một chiếc xe Honda dame dường như đang chờ ai. Gặp tôi, Nhiên chào và cho biết đến đón người vợ sắp cưới học ở đây. Nhiên cho biết vừa thắng kiện và được nhạc sĩ Phạm Duy trả một số tiền khá lớn, Nhiên vừa sắm cho mình chiếc xe Honda mới. Tôi rất vui mừng cho Nhiên đã được đền bù xứng đáng cho  những sáng tác tim óc của mình. Năm 1992, ở Montréal tôi đọc báo tin Nguyễn Tất Nhiên chấm dứt cuộc đời một cách bi thảm khi vứa tròn 40 tuổi. Đúng là tài hoa bạc mệnh! Tôi ngậm ngùi thương tiếc cho người học trò nổi tiếng nhưng sống một cuộc đời lận đận. Nhiên không  muốn nhân gian nhìn thấy nhà thơ già như giai nhân và danh tướng khi về già trong hai câu thơ: " Giai nhân tự cỗ như danh tướng. Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu".

Những năm đầu tôi dạy ở trường Ngô Quyền thì ban giám đốc trường gồm: ông Phạm Đức Bảo, hiệu trưởng,  ông Phạm Khắc Thành, giám học, ông Hoàng Đôn Trịnh, phụ tá giám học, ông Dương Hòa Huân, tổng giám thị. Ban giáo sư đa số gồm những người ở Sài Gòn nên trường ưu tiên xếp gọn cho những vị đó dạy liên tục trong hai hoặc ba ngày, còn các vị ở ngay tại Biên Hòa thì giờ dạy được trải dài trong tuần. Vì vậy có nhiều vị dạy chung trường nhưng cả năm không hề gặp nhau hay có khi còn không biết mặt nhau. Có một số đồng nghiệp tôi quen biết trước như anh Lê Văn Túy, dạy toán ra trường một lượt với tôi, trước dạy ở Gò Công, nay đổi về Biên Hòa, anh Mai Kiến Phúc, dạy Lý Hóa, thủ khoa khóa năm 1965 và vợ là chị Nguyễn Thị Kim Còn cũng dạy Lý Hóa (hai người tốt nghiệp cùng năm với tôi), anh Lâm Tấn Văn dạy Vạn Vật, anh có dạy một vài trường tư ở Sài Gòn chung với tôi và anh Đoàn Viết Biên dạy Quốc Văn, trước dạy chung với tôi ở Trà Vinh. Một tình cờ lý thú là tôi và anh Biên gặp nhau ở ba trường Vĩnh Bình, Ngô Quyền và Nguyễn Trãi. Khi tôi xuống Trà Vinh không bao lâu thì anh đổi về Ngô Quyền, khi tôi lên Ngô Quyền thì hai năm sau anh đổi về Nguyễn Trãi, Sài Gòn. Năm 1977 tôi về dạy Nguyễn Trãi thì lại gặp anh ở đó. Tôi về trường Ngô Quyền năm 25 tuổi nên kết thân với một số đồng nghiệp trẻ như anh Nguyễn Phi Long, dạy toán hiện ở Houston, Texas, Hoa Kỳ và anh Trần Văn Phúc, dạy Sử Địa, nay đã mất, Tô Văn Phú, dạy Vạn Vật nay cũng đã mất. Tôi đã gặp lại anh Phi Long năm 2011 tại Cali nhân đại hội Ngô Quyền toàn thế giới và năm 2015 tại Texas nhân dịp thăm gia đình bên đó..


image003Tất niên với các em học sinh Ngô Quyền

Năm 1972, tôi bị trả lại quân đội vì một vụ xô xát với một nhân vật có thế lực trong chính quyền. Cùng bị trả lại quân đội vì dính liếu chung một vụ việc, có Lê Quang Hiệp, bạn học thời trung học của tôi ở trường Nguyễn Văn Khuê, tốt nghiệp Quốc Gia Sư Phạm, lúc đó làm thư ký cho trường Pétrus Ký. Tôi nhờ ông hiệu trưởng Bảo có mối liên hệ tốt với chính quyền sở tại nói giúp được đưa về một đơn vị coi cầu Đồng Nai. Bạn tôi không may mắn về Châu Đốc và tử trận ở đó. May mắn trong một lần về Việt Nam, tôi có dịp nhờ anh Trịnh Hồng Hải, dạy Lý Hóa ở trường Ngô Quyền đưa đi thăm ông Bảo trước khi ông mất.

Trong hai năm trở lại quân đội, nhờ đơn vị trưởng thông cảm nên tôi vẫn tiếp tục dạy ở các trường tư Sài Gòn. Có một người bạn là "camarade de bouteille" của tôi là anh Lê Kim Luyện mở một trường tư lấy tên là trường Đức Chính ở đường Bùi Viện gần góc Đỗ Quang Đẩu. Hiệu trưởng trường là anh Bửu Ái, cử nhân Pháp Văn, sau định cư ở New York, Hoa Kỳ. Giám học là anh Trần Cao Đức, anh của các giáo sư Trần Cao Tần và Trần Cao Lộc. Thầy ba Cô từ trường Tân Văn về làm tổng giám thị cho trường Đức Chính. Ban giáo sư ngoài tôi dạy toán, còn có Trịnh Quốc Thông dạy Vật Lý, Đỗ Quang Tiên dạy Hóa, Nguyễn Anh Tuấn dạy Triết, cả ba anh này đều là giáo sư trường Trung Thu; anh Chế Đô, anh Võ kim Sơn dạy Pháp văn, anh Mai Khắc Bích dạy Sử Địa., sau 75 anh Bích dạy Nguyễn Trãi chung với tôi; anh Tạ Chí Đông Hải (anh của nhà sử học Tạ Chí Đại Trường) dạy Quốc Văn, anh Lê Nguyên dạy Lý Hóa, anh Trần Thế Anh dạy Toán...  Tôi còn dạy thêm các cours luyện thi của anh Luyện ở đường Trương Minh Giảng. Trường Đức Chính ở gần hai quán nhậu nổi tiếng cũng ở trên đường Bùi Viện là quán Ba Thừa và quán Thanh Hải. Thành ra giờ chơi  chúng tôi thường qua một trong hai quán đó "làm" vài chai rồi trở về dạy tiếp. Có khi bữa nhậu đang dang dỡ, tới giờ dạy, chúng tôi định đứng lên về trường thì giám đốc Luyện ngăn lại nói để cho học trò chờ đó, cứ nhậu tiếp! Đặc biệt, hai quán này sẵn sàng cho chúng tôi ăn uống ghi sổ, cuối tháng lảnh lương trả sau. Anh Luyện là một người rất hào phóng. Trước 75 anh lấy cô Sơn, nhà ở trong hẻm Bùi Viện, nhỏ tuổi hơn anh rất nhiều. Sau 75, anh ăn ở với một chị trong gia đình tiệm vải Tô Tân ở góc đường Lê Lợi và Phan Bội Châu, bên hông chợ  Bến Thành. Anh chị Luyện mở một quán nhâu ở góc đường Bà Huyện Thanh Quan và Trân Quý Cáp. Bạn bè cứ việc đến ăn nhậu rồi ghi sổ. Cuối cùng, chị Luyện phải dẹp tiệm vì hết vốn.  Nghe nói về sau anh chị chia tay và anh Luyện đã mất ở quê nhà Nha Trang. Chị Luyện, người Bắc, vốn là con nhà giàu chắc là không chịu đựng nỗi tánh tình phóng túng của anh Luyện.

Anh Võ Kim Sơn dạy trường nữ trung học đô thị Cô Giang tức trường nữ tiểu học Tôn Thọ Tường trước đó, ở trên đường Trần Hưng Đạo, đối diên với trường Nguyễn Thái Học (trước là trường nam tiểu học Trương Minh Ký). Anh được bà hiệu trưởng trường này cho tổ chức những lớp đêm luyện thi Tú tài cho người lớn. Tôi có phụ trách dạy toán cho vài lớp ở đó. Mỗi tối, dạy xong chúng tôi thường kéo tới kiosque của cô Lệ trên đường Đề Thám gần ngả tư quốc tế để uống bia ghi sổ. Ở đây, chúng tôi thường gặp ca sĩ Duy Khánh và ca sĩ hài Vân Sơn(ban AVT). Hôm nào lãnh lương, tiền bạc rủng rỉnh thì chúng tôi vào nhà hàng Thiên Tân, bên kia đường đối diện kiosque cô Lệ ăn đồ tây và uống cognac. Thỉnh thoảng có kép lão Năm Phồi của đoàn cải lương Hoa Sen ngày xưa đến giúp vui chúng tôi bằng vài câu vọng cỗ mùi riệu. Có khi chúng tôi gặp nhạc sĩ Châu Kỳ tại những quán bar trên đường Bùi Viện. Đặc biệt, khi đã ngà say, Châu Kỳ thường xổ tiếng Tây với chúng tôi. Nhưng chính tại trường Cô Giang này tôi đã gặp được vợ tôi.

Trong thời gian kẹt lại trong quân đội, tôi làm đơn xin tái biệt phái về bộ Giáo Dục.  Kết quả là cuối năm 1973 tôi được trả về ty Giáo Dục Biên Hòa. Để tránh việc xáo trộn giờ dạy của các đồng nghiệp ở trường Ngô Quyền, tôi xin ở lại làm việc ở ty Giáo Dục và được ông trưởng ty cho làm ở phòng học vụ mà trưởng phòng là ông Lê Hồng Sanh, trước là thư ký ở trường Ngô Quyền. Nhưng chỉ một thời gian ngắn chán cảnh nhàn rỗi ở đây, tôi xin về trường dạy lại.

Bấy giờ có anh Trần Thái Hùng, ban Toán khóa 1967, trước dạy trường Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long vừa đổi về trường Ngô Quyền và cũng dạy có hai ngày đầu tuần như tôi. Anh ở đường Bùi Viện và cũng đi lên Biên Hòa bằng xe Lambrettwist. Thế là tôi đi quá giang với anh. Sáng thứ hai hàng tuần tôi đi xe ôm từ nhà tôi ở quận 4 đến góc đường Bùi Viện và Trần Hưng Đạo đón Hùng và cùng đi lên Biên Hòa . Chiều thứ ba, Hùng chở tôi từ Biên Hòa về Sài Gòn và thả tôi cũng tại góc đường đó để tôi đi xe ôm về nhà. Trong hai ngày ở Biên Hòa, hai tôi cùng đi ăn cơm trưa và chiều hoặc ở quán Thu Hà đường Phan Đình Phùng hay quán Bình Dân gần sân vận động. Buổi trưa tôi theo Hùng về nhà cô của anh ở ngả ba Vườn Mít nghỉ trưa trên một bộ ván gỗ mát lạnh. Buổi tối, tôi ngủ ở nhà chị Cúc, chị họ của tôi ở gần trướng hay có khi làm "đêm không ngủ" ở nhà trọ của anh Lê Quý Thể để xem các bạn đồng nghiệp xoa mạt chược. Hùng nay vẫn còn ở Sài Gòn mà tôi vẫn thường gặp để cùng đi ăn uống với các bạn đồng môn khác mỗi khi tôi về Việt Nam. Mỗi khi qua Cali tôi cũng có gặp anh Lê Quý Thể ở đó.

 

 

image006

Tôi và anh Tô Văn Phú (dạy vạn vật) ở hành lang trường Ngô Quyền

Về sau, đêm ở lại Biên Hòa tôi day thêm một lớp luyện thi Tú Tài của anh Nguyễn Thành Dũng, người địa phương, cũng là giáo sư trường Ngô Quyền, Anh hiện vẫn ở Biên Hòa và có căn nhà rất đẹp bên bờ sông Đồng Nai, gần cầu Gành. Tôi, Trịnh Văn Dĩ, Trần Thái Hùng và Đinh Quang Hảo, tất cả đều là giáo sư toán ngày trước thường ghé thăm Dũng mỗi khi lên Biên Hòa bằng xe hơi của con gái Dĩ trong những lần tôi về Việt Nam. Bạn tôi, Trịnh Văn Dĩ nay được xem là người đang "hưởng phước"  vì đi đâu cũng bằng xe hơi có tài xế lái, bỏ đi những tháng ngày chật vật ở Mỹ Tho. Sau này tôi được một em học sinh trường Ngô Quyền giới thiệu với một ông Tây có vợ Việt để thuê một căn phòng trống của ông ấy trong một chung cư để mở lớp dạy thêm. Tôi và ông ấy liên lạc với nhau mỗi đầu tháng bằng vài dòng chữ bằng tiếng Pháp tôi để lại trong hộc bàn chung với số tiền phòng tôi trả hàng tháng

Đầu năm học 74-75, tôi đang dạy trường Ngô Quyền ở Biên Hoà thì anh Lâm Võ Huỳnh, giám đốc Trung Tâm Giáo Dục Hồng Bàng ở quận 5, Chợ Lớn gặp tôi hỏi tôi có muốn về dạy ở trường anh không? Gần mười năm dạy từ miền tây đến miền đông, đây là cơ hội để tôi dạy gần nhà. Tôi nhận lời. Anh nói tạm thời tôi dạy một số giờ toán lớp 12 của một đồng nghiệp môn toán ở trường anh đã lên đường tu nghiệp ở Pháp, rồi anh sẽ làm thủ tục cho tôi thuyên chuyển về đó.
Tới khoảng giữa niên học tôi mới nhận được sự vu lệnh thuyên chuyển về Trung Tâm Giáo Dục Hồng Bàng. Ngoài lớp 12 duy nhất của trường, tôi phụ trách toán cho lớp 10 và 11. Lớp 12 của trường chỉ võn vẹn có mười mấy em, toàn là con những nhà tai mắt ở thủ đô.

image007Trung tâm giáo dục Hồng Bàng

Trung Tâm Giáo Dục Hồng Bàng trước kia có tên là Ecole Francaise de Cho Lon, được người Pháp xây dựng từ ngày 07/06/1933 để làm trường nội trú cho trẻ em con lai Pháp . Về sau trường được chuyển thành chi nhánh của trường Jean Jaques Rousseau tại Chợ Lớn ( annexe Cho Lon)  Từ năm 1967 , theo sự thỏa thuận của hai chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa và Pháp, trường được giao lại cho Việt Nam quản lý với sự hợp tác của chính phủ Pháp .Từ đó Trung Tâm Giáo Dục Hồng Bàng trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục , bắt đầu dạy chương trình song ngữ Việt–Pháp .TTGD Hồng Bàng được quản lý bởi Ban Giám đốc cùng các giáo sư và giáo viên người Viêt phụ trách dạy Việt ngữ và các giáo viên và giáo sư người Pháp, do Trung Tâm Văn Hóa Pháp cung cấp, dạy Pháp ngữ.

Giám đốc đầu tiên là Ông Nguyễn Khánh Hải , sau đó lần lượt thay đổi các Giám đốc Nguyến Ngọc Quang, Từ Chấn Sâm và Lâm Võ Quỳnh là vị giám đốc cuối cùng cho đến ngày 30/4/75.

Ở trường, trong phòng giáo sư có đặt hai dãy ghế song song hai bên cái bàn dài. Một bên là giáo sư người Việt của bộ giáo dục, bên kia là giáo sư người Pháp hay Việt quốc tịch Pháp của Aliance Francaise. Anh Huỳnh thì ngồi ở đầu bàn. Giáo sư người Việt nào biết nói tiếng Pháp thì trao đổi với giáo sư người Pháp, nếu không thì chỉ gật đầu hay bắt tay khi gặp nhau.

Các em lớp 12 nhất định phải đỗ tú tài cuối năm nên yêu cầu tôi mở cours dạy thêm bên ngoài. Tôi mướn một phòng học của người Tàu ở gần trường, tôi dạy toán và nhờ một người bạn là anh Nguyễn Thành Tương đang dạy trường Cần Giuộc phụ trách Lý Hoá cho các em. Kỷ niệm ở lớp dạy thêm này tôi không quên là những buổi dạy toán của tôi đã xong, tôi phải nín thở chờ anh Tương từ Cần Giuộc chạy xe về dạy tiếp môn Lý Hoá. Khi nào thấy xe vespa màu xanh của anh ấy xuất hiện ở đầu ngỏ mới thở một cái phào. Các em lớp 12 nói với tôi rằng phụ huynh các em hứa nếu cuối năm các em thi đậu thì họ sẽ đãi tôi một chầu linh đình ở nhà hàng Soái Kình Lâm. Nhưng ngày ấy không bao giờ tới!  Các em lớp 12 này cũng đã cho tôi một kỷ niệm đẹp là tặng cho tôi một cuốn album thật to và đẹp nhân ngày tôi cưới vợ đầu tháng 4 năm 1975. Còn ở lớp 10 có một em gái là con của vị Quân Trấn Trưởng Biệt Khu Thủ Đô đã từ trường gọi vào trại Lê Văn Duyệt cho cha em thả tôi ra vì đêm hôm trước tôi ở ngoài đường quá giờ giới nghiêm.


image010Tôi và các em học sinh lớp 12 trung tâm giáo dục Hồng Bàng

image011Tôi và các em học sinh lớp 10 trung tâm giáo dục Hồng Bàng

Tôi cũng còn nhớ tất niên âm lịch nhằm đầu năm 1975, nhà trường có tổ chức liên hoan, trong đó có diễn một vỡ kịch câm cổ điển. Anh Huỳnh trắng trẻo, nhỏ con làm công chúa, còn tôi cao lớn được chọn làm hoàng tử nước láng giềng. Nhưng oái oăm thay công chúa lại yêu một anh gù xấu xí khác. Hôm đó tôi phải cố sức diễn đúng theo lời thuyết minh của một chị giáo sư cùng trường. May mắn chúng tôi cũng gây được nhiều trận cười cho khán giả.

Trong những đêm cuối tháng 4 năm 1975, chúng tôi thường trực đêm trong trường. Chúng tôi uống bia và đánh phé để quên đi những lo âu về tình hình dất nước trong cái phòng tiếp tân gần cổng ra vào. Anh lao công gác cổng thường chạy ra, chạy vô mua thuốc lá hay bia cho chúng tôi. Thế mà tình đời thay đổi mau chóng. Chỉ vài ngày sau biến cố 30/4/75, khi trường đã bi tiếp quản, các giáo sư chúng tôi bị giáng cấp thành giáo viên, anh Huỳnh không còn là giám đốc thì có một đêm tôi vào trực, gọi cổng nhiều lần , anh bảo vệ chạy ra nạt nộ tôi: tại sao tôi gọi lớn quá làm đánh thức cả nhà anh dậy.

Trong thời gian tôi dạy lớp đêm ở trường nữ trung học đô thị  Cô Giang, tôi quen được một con gái sau trở thành bà xã của tôi. Số là tôi có dạy một lớp luyện thi Tú Tài ở đó và trong lớp có một em nữ sinh tên Mi, một đêm em dẫn một người bạn gái tên Nga vào lớp và xin phép tôi cho Nga học "ké" một buổi toán vì nghe nói tôi dạy dễ hiểu. Tôi đồng ý nhưng dặn thêm nếu Nga quyết định theo học luôn thì phải đóng học phí. Lúc tan học Nga ngỏ ý mời tôi đi uống nước để cám ơn tôi. Tôi cẩn thận goi anh Sơn giám đốc lớp đêm đi theo Mi và Nga tới một quán nước ở đường góc đường Cô Bắc và Đề Thám. Trong khi ăn uống, Nga nói em có một người chị trước học ở trường Tây, nay đã nghỉ học, thầy  có muốn quen với chị em thì em giới thiệu cho. Năm đó, tôi đã 30 tuổi nhưng vẫn còn độc thân, có quen một vài cô cúng như được bạn bè mai mối một vài chỗ nhưng tôi không ưng ý. Trông Nga thấy đẹp thì tôi nghỉ chị của em chắc cũng đẹp nên đồng ý coi xem sao Tối hôm sau đúng hẹn, tôi trở lại quán nước đó gặp hai chị em của Nga. Tôi không ngờ chị của Nga rất đẹp giống như những câu thơ của Nguyễn Du

Kiu càng sc so mn mà,

So b tài sc li là phn hơn.

Làn thu thy nét xuân sơn

Hoa ghen thua thm liu hn kém xanh


image013Bà xã tôi khi còn là nữ sinh trường Phan Văn Huê

Sắc thì tôi đã thấy, nhưng tài thì sao?  Sau này khi sống với nàng tôi mới biết vợ tôi có tài nấu ăn, nhờ đó trong những lúc khó khăn nhứt nàng đã trở thành người khéo xoay sở để gia đình tôi tìm được lối thoát. Như lúc tôi dạy học sau năm 75 với lương 60 đồng một tháng, nàng đã mở quán ăn rất đông khách đem thu nhập bù đấp cho ngân quỹ của gia đình tôi, hoặc lúc tôi ra nước ngoài mà nàng và hai con còn ở Việt Nam, vợ tôi một mình có thể thầu nấu ăn cho một đám cưới để nuôi sống ba mẹ con.

Nàng tên là Mai, gia đình ngày trước rất khá giả nên đã cho nàng theo học chương trình Pháp ở trường Saint-Paul, đường Cường Để, sau đó ở trường Pasteur, đường Sương Nguyệt  Anh và trường Phan Văn Huê đến classe terminale.  Vào thời điểm tôi quen Mai thì gia đình nàng sa sút vì ba nàng bị người bạn đồng sáng lập công ty sang đoạt hết cổ phần của ông. Mai là con gái lớn trong gia đình đông con nên phải ở nhà chăm sóc các em để ba má nàng bươn chải kiếm tiền. Tôi không biết là nhà của Mai ở bên trong chợ Cầu Cống cùng đường Đỗ Thanh Nhơn, quận 4 với nhà tôi.


image015Đám cưới chúng tôi vào đầu tháng 4 năm 1975

Chúng tôi quen nhau hơn nửa năm cho đến đầu tháng 4 năm 1975 mới làm đám cưới. Lúc đó, tình hình hình chiến sự biến chuyển dồn dập. Việt Nam Cộng Hòa đã mất gần hết các tỉnh ở miền Trung. Lệnh giới nghiêm ở Sài Gòn  bắt đầu từ 8 giờ tối. Tiệc cưới chúng tôi tổ chức thật sớm vào 5 giờ chiều tại nhà hàng Sài Gòn gần rạp Đại Nam, đường Trần Hưng Đạo. Chỉ có các bạn bè tôi ở Sài Gòn tham dự đông đủ, đa số là các đồng nghiệp trường Hồng Bàng và các trường tư ở Sài Gòn, còn các bạn đồng nghiệp cũ ở tỉnh như Trà Vinh hay Biên Hòa tham dự rất ít vì đường đi bị cắt đứt, trừ một số bạn đang ở Sài Gòn như các anh Nguyễn Bình Tưởng, Nguyễn Quang Hiền, Nguyễn Văn Quan, Trần Kim Hoàng và Nguyễn Trung Hiếu. Kỷ sư Thọ cho tôi mượn xe hơi để rước dâu.

Chỉ hơn ba tuần sau thì miền Nam mất. Tôi còn nhớ ngày 28 tháng 4 năm 1975, vào buổi sáng, tôi đang dạy một lớp 12 của trường Saint-Thomas, ở Phú Nhuận, nhìn lên bầu trời qua cửa sổ lớp học tôi thấy từng đàn trực thăng bay ngang thật thấp: người Mỹ đang di tản khỏi Việt Nam. Tôi tự hỏi rồi mình sẽ ra sao? Lúc ở phòng giáo sư, Cha hiệu trưởng nói với tôi: sắp có giải pháp, thầy cứ yên chí mình sẽ tiếp tục dạy học như thường. Sự lạc quan của Cha hiệu trưởng không đủ sức trấn tỉnh tôi trước một tương lai mình không đoán được!

 

 (còn tiếp)

28 Tháng Chín 2019(Xem: 335)
Đâu đó hắn chợt nghe bài hát phát ra bên đường trên lối ra từ nhà ga xưa: ... ”Em đi bỏ lại con đường Bờ xa cỏ dại, vô thường nhớ em...”
27 Tháng Chín 2019(Xem: 294)
Mấy ngày trước ăn đồ Tây hoài, ngán tới cổ. Ngày hôm nay mới được ăn đồ Tàu và đồ Việt !
15 Tháng Chín 2019(Xem: 277)
Thi tập Ngôn Ngữ Xanh của Nguyễn Thị Khánh Minh, mà theo cảm nhận riêng của tôi là một tập Thơ về Thơ, khởi sự nhân duyên có lẽ từ câu hỏi đó: “Ở đâu một ánh mắt? Để có ngôn ngữ xanh”.
14 Tháng Chín 2019(Xem: 450)
Cháu ngoại tôi hai đứa cũng học ngay trường Trung Học ngày xưa mẹ nó từng học Ba thế hệ chúng tôi nối bước nhau đi vào trường, vào lớp. Yêu và nhớ quá một thời học sinh.
08 Tháng Chín 2019(Xem: 525)
Hãy yên tâm đi ông xã. Mỗi năm chúng mình sẽ gặp nhau một đêm hạnh phúc. Có chị Hằng làm chứng, có các cháu chung vui. Mình mãi mãi hạnh phúc trong niềm vui nhân loại.
16 Tháng Tám 2019(Xem: 590)
Xin cầu nguyện cho các bà mẹ quá vãng được siêu sinh Tịnh Độ. Nguyện xin ơn trên gia hộ cho các bà mẹ hiện tiền đầy đủ sức khỏe, nghị lực để sống an vui cùng concháu
09 Tháng Tám 2019(Xem: 587)
Kính chúc các bà mẹ sức khỏe để được cận kề con cháu, để nghe những lời yêu thương và được sự săn sóc tận tình.
09 Tháng Tám 2019(Xem: 464)
Vu Lan quỳ dưới Phật Đài, Cầu cho mẹ được sống hoài với con.
09 Tháng Tám 2019(Xem: 1276)
tôi đã bước một quãng đời quá dài với không biết bao nhiêu lần vấp ngã. Những vấp ngã nầy là những lao đao trên bước đường đời
06 Tháng Tám 2019(Xem: 337)
Một bài thơ chỉ bốn câu Mà mang theo đủ sắc màu đổi thay Xin dừng ngọn bút nơi đây Ngày sau nối tiếp cho đầy túi thơ!
05 Tháng Tám 2019(Xem: 570)
Chúng ta ngưỡng mộ và tiếp nối những bước chân tiền nhân. Biên Hòa vẫn mãi mãi trong trái tim chúng ta.
03 Tháng Tám 2019(Xem: 574)
XIN CÁC VỊ HÃY YÊN NGHỈ. NƯỚC MỸ VÀ CẢ THẾ GIỚI ĐỀU TRI ÂN CÁC NGƯỜI.
01 Tháng Tám 2019(Xem: 416)
*Xin bấm vào phần Youtube bên dưới để thưởng thức: MÃI NGHE TIẾNG MUÔN TRÙNG - Nhạc Phạm Chinh Đông – Trình Bày Đoàn Minh
25 Tháng Bảy 2019(Xem: 811)
Cuộc đời vẫn trôi đi và tình cảm Ngô Quyền lúc nào cũng vui và đẹp như hoa nở trong vườn trong sương mai. Nhìn lại bước đường đi qua,...Nhìn lại để cám ơn trời, cám ơn đời, cám ơn thầy cô, cám ơn các bạn...
22 Tháng Bảy 2019(Xem: 526)
...Một nhân tài VN đã dám sống tận tụy một tay chăm sóc mọi việc lớn nhỏ cho đến nổi kiệt sức trút hơi thở cuối cùng.
21 Tháng Bảy 2019(Xem: 1852)
Mỗi năm già thêm một tuổi, nhưng khi về họp Ngô Quyền vào đầu tháng 7 hàng năm thì tưởng như vẫn mãi là "em mười sáu tuổi trăng mười sáu...***
20 Tháng Bảy 2019(Xem: 772)
Kính chúc các Thầy cô luôn khỏe mạnh và an vui. Chúc các bạn hạnh phúc và bình an bên gia đình. Ngày hè sang năm chúng ta lại gặp nhau đông vui và có nhiều đổi mới. Nguyện ơn trên gia hộ chúng ta.
20 Tháng Bảy 2019(Xem: 1008)
Ở Mỹ hơn 44 năm, lần đầu tiên Tôi solo theo ACE ĐMNQBH đi xe đò Hoàng từ OC lên San Jose tham dự Ngày Họp Mặt Truyền Thống THNQBH2019, tổ chức tại Bắc Cali,vào dịp Quốc Khánh HK July Fourth
18 Tháng Bảy 2019(Xem: 692)
Các bạn ơi! Sẵn sàng nhé, thêm một tay chèo chuẩn bị cho ngày tuyển cử Ban Chấp hành Ngô Quyền 2020. .. Mong đa số đều có ý tưởng đoàn kết, yêu thương và có trách nhiệm để tiếp tục phụ lái con thuyền NQ ra biển lớn.
14 Tháng Bảy 2019(Xem: 516)
cuộc tranh cử làm ứng cử viên Tổng Thống của Đảng Dân Chủ Mỹ đã chính thức bước vào giai đoạn khốc liệt với những cuộc tranh luận gay gắt giữa những chuẩn ứng cử viên trong cùng một chánh đảng.