Danh mục
Số lượt truy cập
5,496,224

GS. Đỗ Thế Vinh - Kinh Nghiệm học và dạy học tại Việt Nam và Mỹ.

26 Tháng Giêng 20194:19 SA(Xem: 1055)
GS. Đỗ Thế Vinh - Kinh Nghiệm học và dạy học tại Việt Nam và Mỹ.


Bài viết sau đây chỉ là kinh nghiệm và nhận định chủ quan về việc học và dạy học tại Việt Nam và tại Hoa Kỳ của chính tôi. Do đó có thể rất chủ quan, hạn hẹp và có nhiều thiên kiến.

Đỗ Thế Vinh 


Kinh Nghiệm học và dạy học tại Việt Nam và Mỹ.

Học tại Việt Nam

Từ khi học xong lớp nhất năm 1957, tôi đã phải tranh đua học và thi cử để đỗ tiểu học và thi tuyển vào trường Chu Văn An. Mỗi năm tôi phải thi đệ nhất lục cá nguyệt và đệ nhị lục cá nguyệt để được lên lớp nếu đủ trung bình 10/20. Cuối năm đệ tứ, tôi phải thi trung học đệ nhất cấp là kỳ thi do bộ giáo dục tổ chức căn cứ trên sách giáo khoa do bộ giáo dục ấn định. Sau đó, hết năm đệ nhị tôi phải thi tú tài I và cuối năm đệ nhất tôi lại phải thi tú tài II đều do bộ giáo dục tổ chức. Hội đồng giám khảo gồm giáo sư ở những trường khác đến chấm điểm trên bài thi đã rọc phách không để lộ tên thi sinh. Mục đích chính của những kỳ thi này theo nhận xét chủ quan của tôi, không phải để đánh giá nội dung kiến thức học sinh đã học được nhằm giúp từng cá nhân học sinh thêm như ở Mỹ nhưng chỉ để chọn ra khoảng độ 8 đến 10 phần trăm học sinh khá nhất cho tiếp tục học đại học vì những trường đại học rất ít không đủ chứa tất cả học sinh thi đậu. Mỗi lần gần đến kỳ thi, tôi học rất chăm chỉ để nhớ lúc đi thi và sau đó thường quên rất nhiều và hầu như không cần dùng đến nữa. Một động lực nữa trong việc cố gắng thi đỗ là để không phải đi lính, nhất là sau khi luật tổng động viên được ban hành. Xin xem thêm bài của giáo sư  Nguyễn văn Lục trên website Ngô Quyền (1) 

Tuy vậy, tôi bản tính luôn luôn muốn học hỏi và tìm hiểu thêm những điều tôi ưa thích. Tôi thường bỏ nhiều thì giờ học và đọc thêm về thi ca, tiểu thuyết của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, những tác phẩm của những đại văn hào Pháp dịch sang tiếng Việt. Khi lên đệ nhất ban C tôi bắt đầu rất thích triết học và đọc được rất nhiều sách về Triết học, nhất là về tâm lý. Trên đại học, ngoài những sách triết đòi hỏi của những chứng chỉ cho bằng cử nhân giáo khoa Triết Học Tây Phương, tôi cũng thích đọc hoặc có cơ hội đọc nhiều sách tiếng Anh, đặc biệt là sách về ngữ học và khải đạo khi tôi học cao học giáo dục Anh Văn và khóa khải đạo đặc biệt vào đầu thập niên 1970's. Chú thích (1) Chương trình học của tôi ở Đại Học Sư Phạm và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn tại Việt Nam.

Nói về cách học và thi cử trên đại học ở Việt Nam, tôi cũng xin chia sẻ một số kinh nghiệm của chính mình ở tại trường Đại Học Sư Phạm (ĐHSP) và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn (ĐHVK). Mỗi giáo sư dạy lớp đều hoàn toàn độc lập, tự chọn sách để học sinh đọc thêm, tự soạn bài và chấm thi chính sinh viên mình dạy. Đa số giáo sư Việt Nam soạn bài và dạy rất kỹ, ít khi bắt đọc thêm sách và cho điểm rất khắt khe căn cứ vào nội dung bài giảng của mình trong khoá. Có một số giáo sư Việt Nam có tiến sỹ Mỹ hoặc là tu sỹ thường cho điểm dễ dãi hơn. Giáo sư người Pháp, một bà dạy tôi Pháp Văn và một tu sỹ dạy tôi đạo đức học cũng dạy rất tận tâm và cho điểm cho sinh viên cuối năm khá cao. Những giáo sư người Anh, Úc, và Tân Tây Lan dạy học và cho điểm cũng khá "kỹ". Đặc biệt có một giáo sư người Anh dạy môn Văn chương, Văn Minh Anh cho điểm rất khắt khe, đánh rớt khá nhiều sinh viên mỗi khoá. Sau hết giáo sư người Mỹ thường dạy rất nhiều, đề nghị đọc thêm sách nhiều nhưng cuối năm thường cho điểm rất dễ dàng và rất cao. (Học tại ĐHSP và tại ĐHVK)

Khi được nhận vào học cao học Giáo Dục Anh Văn với một ứng viên nữa, tốt nghiệp năm 1967 trước tôi một năm, hai chúng tôi đã được học đúng theo lối Mỹ do giáo sư bảo trợ, tiến sỹ Dương Thanh Bình soạn chương trình giống như chương trình cao học Mỹ. Đa số thời gian là tự học, đọc những sách chỉ định rồi mỗi tuần gặp báo cáo nội dung sách đã đọc cho giáo sư và bạn cùng lớp, sau đó cùng nhau thảo luận đóng góp ý kiến với nhau về sách đã đọc. Học theo lối này giúp tôi nhớ những điều mình đọc rất lâu và phát triển được óc phê phán (critical thinking) qua thảo luận sách mình đọc và bạn cùng lớp đọc với giáo sư bảo trợ bằng những ý kiến chủ quan của mình đã được suy nghĩ và sửa soạn trước khi dự lớp. Tôi cũng có cơ hội học hỏi và đọc rất nhiều về khải đạo "Thân Chủ Trọng Tâm" (Client-Centered Counseling) của tâm lý gia Carl Rogers trong những lớp khải đạo của chương trình cao học do giáo Sư Huỳnh văn Quảng và nữ tu sĩ giáo sư Tô Nguyệt Ánh tại trường Đại Học Sư Phạm cũng như trong suốt khoá học khải đạo đặc biệt cho giáo sư trung học muốn trở thành giáo sư khải đạo theo lối Mỹ ở Sài Gòn vào đầu thập niên 1970's.

Dạy học tại Việt Nam

Tôi bắt đầu dạy kèm tại tư gia Pháp Văn, Anh Văn và dạy những lớp Anh Văn buổi tối tại trung tâm Anh Văn Phan Sào Nam vào 2 năm 1965, 1966 lúc còn học năm thứ nhất và thứ hai Đại Học Sư phạm. Học viên tại Phan Sào Nam đa số là làm việc hoặc phải tiếp xúc với người Mỹ ban ngày nhưng chưa biết tiếng Anh nhiều. Khi dạy những học viên này, tôi chỉ chú trọng dạy nghe và nói tiếng Anh đàm thoại hàng ngày, không dạy văn phạm, đọc và viết nhiều như khi tôi dạy tư và dạy ở những trường học sau khi tốt nghiệp. Khi còn học ở Đại Học Sư Phạm, tôi phải học viết, ngữ học (văn phạm), đọc sách văn chương, tập nghe, và nói tại phòng thính thị Anh ngữ. Tuy nhiên, sau khi tốt nghiệp đi dạy tôi không dạy Anh ngữ (spoken English) nữa, chỉ dồn cố gắng dạy học sinh văn phạm, phân tích văn phạm (parsing) theo văn phạm quy tắc (prescriptive grammar) và thuyết ngữ học cấu trúc (structuralism) của De saussure (2), phân tích câu, đọc và viết làm bài tập bộ English For Today do bộ giáo dục chỉ định để học sinh thi đỗ tú tài I và tú tài II theo đòi hỏi của bộ mà giáo sư Đàm Trung Pháp gọi là: “Phương Pháp Văn Phạm – Dịch Thuật” (3)  

Tôi còn nhớ lần đi dạy thực tập với giáo sư Đào Thị Hợi tại trường Gia Long Sài Gòn. Tôi rất căng thẳng, sửa soạn bài rất kỹ, mặc quần áo chỉnh tề thắt cà vạt cho bảnh trai hơn vì may mắn được dạy nữ sinh tại trường Gia Long. Hôm ấy tuy toát mồ hôi và lo âu tột cùng,  rất may mắn tôi không bị "khớp" và dạy rất suông sẻ được điểm khá cao.

Tôi thực sự bắt đầu dạy học từ sau khi tốt nghiệp năm 1968 cho tới khi tôi rời Việt Nam mùa hè 1978. Khi thiếu giáo sư dạy triết tại Long Thành, tôi cũng được mời dạy triết ở 2 lớp 12A và 12B. Theo tôi, chương trình đòi hỏi môn triết ở những lớp 12 là một ưu điểm của hệ thống giáo dục Pháp và Việt Nam Cộng Hòa. Chính những lớp triết này đã cung cấp cho học sinh sửa soạn vào đại học phát triển óc phán đoán khi thấy một vấn đề có thể nhìn theo nhiều quan điểm khác nhau và mỗi quan điểm đều có những ưu điểm và khuyết điểm khác nhau. Chỉ tiếc là từ ngữ và nội dung của triết học quá lạ lẫm, khó hiểu đã không gây hứng thú (inspire) được cho đa số học sinh, trừ một số rất ít em rất thích suy tư triết và những em học ban C . Một số học sinh cả ở Long Thành và Sài Gòn nói với tôi là các em không có thời giờ tìm hiểu nên đã cố thuộc lòng bài, cốt chỉ để thi đủ điểm đậu. Nhưng vì thiếu hiểu biết và kinh nghiệm, tôi chỉ truyền đạt những kiến thức đã học hoặc đọc được cho học sinh vì chính tôi cũng chẳng bao giờ đặt vấn đề với những kiến thức ấy. Tôi mê say dạy những học thuyết khác nhau, đôi khi chống đối lẫn nhau nhưng ít khi bắt học sinh suy nghĩ phê bình hoặc phản biện những lý thuyết và giả định khác nhau đó.
Hinh Long Thanh (1)                                          Ban giám  đốc và giáo sư trường Trung Học Long Thành năm 1971

Tôi chỉ phải dạy học khoảng 16 giờ mỗi tuần, dàn xếp sắp thời khóa biểu trong hai ngày rưỡi, tới trưa thứ Tư rồi về Sàigon dạy tư hoặc dự lớp cao học cho tới sáng thứ Hai sau mới phải lên Long Thành lại.

 So sánh những trường tư thục và trường công Long Thành tôi dạy tại Việt Nam, tôi thấy có sự khác biệt rõ ràng về trình độ. Trường Long Thành tuy là một trường quận của tỉnh Biên Hoà nhưng vì có thi tuyển vào lớp 6 (Đệ Thất) nên học sinh thường có trình độ khá và tương đương với nhau. Những trường tư ở Sài Gòn dù là thủ đô của nước Việt Nam Cộng Hòa vì không phải thi tuyển nên rất hỗn tạp và tuy có một số ít học sinh giỏi, nói chung  trình độ  thấp  hơn học sinh của tôi ở Long Thành. Xin xem thêm bài của GS Nguyễn Văn Lục (1 B)

Sau năm 1975, tôi cũng chỉ phải dạy số giờ dạy tương đương như vậy nhưng phải ở lại trường suốt ngày làm giáo án, chấm bài hoặc "ngồi chơi sơi luơng" 65 đồng tiền mới mỗi tháng tương đương với lương thâm niên cũ. Sách giáo khoa trong giai đoạn đầu vẫn là bộ "English for Today" của Mỹ, sau đó được đổi thành những xắp tài liệu in roneo nội dung sặc mùi chính trị, do những người Việt viết hoặc dịch sang tiếng Anh. Chương trình khải đạo bị bãi bỏ và thay thế bằng huớng dẫn theo "định hướng xã hội chủ nghĩa".

Nhớ lại những sinh hoạt và cách dậy học của tôi thời đó, tôi thấy mình còn nhiều khuyết điểm vì thiếu kinh nghiệm và được huấn luyên theo lối người Pháp tập trung vào sách giáo khoa và những đòi hỏi của bộ giáo dục rất lý thuyết từ chương, thiếu thực hành, không khuyến khích sáng tạo (creativity) và óc phê phán (critical thinking).

Để thúc đẩy và kiểm soát học sinh học tập, tôi thường chỉ gọi được khoảng 5 học sinh lên trả bài vào đầu giờ vì lớp học rất đông, ít nhất là khoảng 50 học sinh. Đây là thời gian rất căng thẳng của các em vì sợ bị gọi trúng tên và nhỡ không thuộc bài thì rất "quê" với cả lớp. Đôi khi các em rất thuộc bài nhưng bị "khớp" không trả lời được. Tôi ít khi khuyến khích các em đọc thêm sách báo và tài liệu mà chỉ yêu cầu làm bài tập trong sách giáo khoa mà thôi.

Vì còn tương đối trẻ, để giữ tư cách là một giáo sư theo lối truyền thống văn hoá Trung Hoa cổ điển, tôi lúc nào cũng cố giữ khoảng cách giữa tôi và những học sinh, nhất là về vấn đề tình cảm. Đầu thập niên 1970's tôi dần dần thấy văn hoá dân chủ theo lối Hoa Kỳ tôi mới học được từ những giáo sư Mỹ, Liên hiệp Anh, và giáo sư du học ở Mỹ về hay và thích hợp hơn với tôi, nhất là sau khi tôi học xong những lớp cao học giáo dục Anh Văn và  khoá khải  đạo. Tôi trở nên bớt hình thức, biểu lộ khôi hài hơn (sense of humor), nhất là đối với những học sinh lớp 6 hoặc lớp 7. Cả hai lối đều bị phụ huynh và học sinh phê bình về tư cách một bên là kiêu ngạo khó gần gũi hoặc bên kia là mỹ hoá quá trớn, khuyến khích học sinh coi trọng tình cảm ủy mỵ hơn chăm chú học hành. Gần đây khi gặp lại một em trong nhóm cựu học sinh Long Thành đến thăm tôi tại Mỹ, em đã nói thẳng với tôi: "Em thấy hồi đó thầy không thương học trò như những thầy cô khác". Với kinh nghiệm tâm lý và khải đạo, tôi biết giải thích rất khó và có thể còn gây hiểu lầm thêm nên chỉ im lặng nhưng trong lòng rất thoải mái hạnh phúc vì tôi biết những cố gắng thành thật trong sáng của mình thời còn non trẻ, nhất là khi thấy em cựu học sinh dù bực tức vẫn giữ tình nghĩa thầy trò đến thăm tôi và đã nói ra được những uẩn ức của mình cho tôi biết.  

Sau tháng tư năm 1975, tôi chỉ còn được dạy Anh Văn với những nội dung sặc mùi chính trị Xã Hội Chủ Nghĩa. Tôi không bị kiểm soát phương pháp và cách dạy tiếng Anh và những vấn đề chuyên môn nhưng bị kiểm soát nội dung bài dạy. Điều khôi hài và trớ trêu là những em học sinh quàng khăn đỏ của chính tôi còn giám sát (supervise) tôi chặt chẽ và nghiêm khắc hơn thầy thủ trưởng và cô phó hiệu trưởng. Có một lần sau khi nói về đời sống phong phú và phong cảnh đẹp ở Mỹ, tôi đã bị thầy thủ trưởng N. gọi lên văn phòng và chỉ mặt nói: "Anh không được dạy tiếng Anh của chính phủ phản động Mỹ, anh phải dạy tiếng Anh của nhân dân tiến bộ Mỹ cho học sinh". Đang căng thẳng nhưng tôi đã không nhịn được cười thầm trong bụng!

Sau đổi mới, tôi lại về Việt Nam dạy Anh Văn và thuyết trình về khải đạo hướng nghiệp (career counseling) cho một trường đại học tư ở Sài Gòn năm 1995 trong dịp nghỉ hè ở Mỹ. Mỉa mai thay nội dung và chương trình giảng dạy của tôi được nhà trường yêu cầu là phải của Mỹ và là những gì tôi đang làm và dạy tại Trường đại học cộng đồng PCC (Portland Community College) và trường đại học PSU (Portland State University).

Tuy Sài Gòn đã thay đổi nhiều và trở nên rất xa lạ nhưng tôi bỗng tìm lại được rất nhiều tình cảm êm đẹp và đầm ấm của những ngày dạy học xa xưa. Sinh viên tôi dạy lúc đó học rất chăm chỉ, lễ phép và kính trọng tôi giống như khi tôi còn dạy học sinh trung học tại Long Thành và Sài Gòn của những thời vàng son đã mất. Tình cảm không mong đợi này đã bất ngờ đến với tôi, có lẽ là do quan hệ thầy trò Việt Nam thật đẹp phản ánh trái ngược hẳn với kinh nghiệm dạy học quá "khách quan" và "chuyên nghiệp" của tôi trên 20 năm tại Mỹ.

Sinh viên tôi dạy rất chăm ngoan và muốn học hỏi nhưng rất thụ động, thiếu khả năng chủ động, và không quen chất vấn giáo sư. Tôi tuy rất thích những học sinh và sinh viên Việt Nam vì các em kính trọng tôi, chăm học và dễ dạy nhưng rất buồn vì trong một truyền thống học từ chương hàng ngàn năm, cộng thêm với một hệ thống chính trị chỉ chấp nhận một chân lý, một uy quyền, học sinh và sinh viên Việt Nam rất khó phát triển khả năng suy nghĩ sáng tạo (creativity) và óc phê phán (critical thinking) nếu không được đi học ở nước ngoài. Xin xem thêm GS Chu Hảo và GS Ngô Bảo Châu (4)

image001image003                                           Lễ mãn khóa học cấp tốc cho sinh viên tại Việt-Nam hè 1995


Học và làm việc ở Mỹ

Ở Mỹ, vì công việc đòi hỏi tôi phải tìm hiểu đọc rất nhiều tài liệu và sách về tâm trí, tâm lý, trắc nghiệm tâm lý, nghiên cứu tâm lý, và khải đạo đa văn hoá. Suốt trong gần hai năm đóng góp phát triển bản trắc nghiệm trầm cảm Việt Nam (Vietnamese Depression Scale), tôi cũng đã được học hỏi với hai vị thày đầu tiên ở Mỹ của tôi là giáo sư bác sỹ Kinzie (6) và giáo sư tiến sỹ Manson (7) và đọc rất nhiều tài liệu và sách về nhân chủng học và nghiên cứu định lượng (quantitative research).

Những may mắn và cơ hội để tôi thay đổi, thăng tiến công việc làm ở Mỹ không phải là do bằng cấp tôi đạt được ở đại học Việt Nam. Ngay cả bằng cao học (M.A.) và tiến sỹ (Ph. D.) ở Mỹ cũng chỉ là một yếu tố trong những yếu tố quan trọng giúp tôi được tuyển chọn làm công việc.

Sau khi bị từ chối không nhận được việc làm nhiều lần, tôi xin được công việc phụ bồi bàn và sau đó việc dây chuyền chùi nắm cửa bằng đồng chỉ vì một bà chủ tử tế nói với tôi khi không nhận tôi làm việc cho bà: "Đáng lẽ tôi nhận anh, nhưng anh vì có nhiều bằng đại học (overqualified), tôi không nhận anh được. Anh sẽ bỏ đi khi có việc tốt và hợp với anh hơn. Tôi lúc đó phải tốn thời gian tâp luyện việc làm lại từ đầu cho người mướn thay thế anh."

Sáu năm sau khi bị cả trường Đại học cộng đồng Portland (Portland Community College" PCC") và khu học chính Portland (Portland Public Schools "PPS") từ chối không nhận dù tôi gần xong bằng cao học dạy Anh Văn ở Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (vì không trình được tiểu luận), PCC đã nhận cho tôi dạy ESL (Enlish as a Second Language) bán thời gian (part time) vì tôi có bằng cao học khải đạo Mỹ (không dính dáng gì đến ESL), và nhất là vì tôi đã thuyết trình về người tỵ nạn và khải đạo xuyên văn hoá (cross-cultural counseling) nhiều lần rất thành công trong hệ thống giáo dục tại Portland.

Cũng nhờ những hoạt động và kinh nghiệm làm việc khải đạo cho trẻ em tỵ nạn không có người lớn đi theo (unaccompanied minors) và trẻ em Mỹ lai (Amerasians) tại Lutheran Family Services tôi được dàn xếp cho trở lại môi trường giáo dục làm chuyên viên đa văn hoá (multicural specialist) toàn thời gian cho khu học chánh Portland.


kinh nghiem2 image009Làm và học tại "Indochinese Center"; Thuyết trình "Suicide workshop" đầu thập niên 1980's

Cuối năm 1986, nhờ kinh nghiệm, thuyết trình, và huấn luyện về khải đạo xuyên văn hoá cho người tỵ nạn Việt Nam, Đông Âu và những người tỵ nạn khác, phân khoa khải đạo tại PSU nơi tôi tốt nghiệp cao học vì thiếu giáo sư khải đạo đa văn hoá đã mời tôi dạy lớp khải đạo đa văn hoá (Multi-cultural Prespectives in Counseling) cho sinh viên cao học dòng chính, đa số đã đi dạy học nhiều năm muốn trở thành giáo sư khải đạo. Đây là một lớp đòi hỏi phải có trước khi hoàn tất bằng cao học khải đạo (khi tôi tốt nghiệp cao học năm 1981 vẫn chưa có lớp này). Tôi là người duy nhất chỉ có bằng cao học được mời dạy trong khi tất cả các giáo sư khác trong chương trình cao học khải đạo đều tối thiểu phải có bằng tiến sĩ. Lúc đó rất ít giáo sư tiến sĩ nguồn chính có kiến thức và kinh nghiệm về khải đạo đa và xuyên văn hoá. Qua những hoạt động và kinh nghiệm trong khải đạo đa văn hoá, tôi cũng được dàn xếp và mời dạy lớp "Khải Đạo cho học sinh có khả năng Anh ngữ hạn chế (Limited English Proficiency) tại phân khoa Giáo Dục PSU (Portland State University) và một khóa hướng dẫn sinh viên cao học cho đại học Antioch University.

Hè năm 1989 tôi được Trung Tâm Tỵ Nạn Quốc Tế Oregon (IRCO) mời dạy lớp ESL cấp tốc của chương trình kiếm việc làm sớm cho người tỵ nạn (Refugee early Employment Program) để xin được việc làm cho người Việt tỵ nạn mới đến Mỹ. Tôi dạy lớp này cũng giống như dạy lớp tối ở Phan Sào Nam, chỉ chú trọng nói và nghe nhưng chủ đề là tập làm đơn xin việc, cho học viên thực tập phỏng vấn với một cô Mỹ trắng và dạy những danh từ liên quan tới một số việc làm lao động đang cần tuyển dụng người ở Portland. Xin xem thêm bài của giáo sư Đàm Trung Phát về việc dạy ESL tại Mỹ (3) 

Khi chương trình Heritage Language phát triển mạnh sau nạn khủng bố tại New York, phân khoa sinh ngữ và Văn Chương tại Đại Học Portland State mời tôi dậy lớp Vietnamese Heritage Language chỉ vì đã biết tôi qua những hoạt động dạy học, khải đạo, có bằng Ph.D. và là người tỵ nạn Việt Nam.

Tương tự như vậy, tôi được mời trở về làm chuyên viên tham vấn văn hoá (cultural consultant), thuyết trình, và giảng dậy bán thời gian cho những khải đạo viên tâm trí trong Bệnh Viện Chấn Thương Trẻ Em của chương trình Tâm Trí Quốc Tế tại trường Y Khoa Oregon (The Child Trauma Clinic of the International Psychiatric Program (IPP) at Oregon Health Sciences University) cho trẻ em tỵ nạn Iraq, Afghanistan và những nơi khác. Với những học viên tập sự khải đạo, tôi chỉ trình bày một số học thuyết về tiến trình phát triển của trẻ em nói chung, cách nuôi dạy chăm sóc trẻ em Việt Nam và dành hầu hết thời gian thảo luận về cách nuôi dạy trẻ em của những học viên đến từ những xứ khác nhau. Dạy theo lối này, học viên khải đạo tập sự đã suy nghĩ, nghiên cứu thêm về văn hoá của mình theo sự chỉ định của tôi trước khi dự lớp và rất thích thú, hãnh diện trình bày văn hoá của mình với bạn cùng lớp và giảng viên. Khi dạy lớp này, tôi hướng dẫn và thảo luận thuyết liên quan tới việc phát triển  tâm lý  trẻ con như Sigmund Freud, Piaget, và Erickson (5) và về văn hoá khác biệt trên thế giới, tôi dùng ý của Hofstede ( (Hofstede, G.; 1983) 

3 Họp giáo chức đông Nam Á tai Portland
                                                                        Hội Thảo giáo chức Đông Nam A tại Portland Oregon 1987

Chụp với Giáo sư Lê Văn (Thầy tôi tại ĐHSP Sài Gòn) 

 

Cũng xin nói về cách soạn bài của tôi tại Việt Nam và tại Mỹ, ở  Việt Nam sau 1975, tôi phải soạn giáo án một cách rất "hình thức" trước khi "lên lớp" trong khi tại Mỹ tôi phải soạn giáo án theo nội dung bài dạy và thay đổi hằng ba hoặc sáu tháng một vì sách giáo khoa luôn thay đổi. Học sinh Việt Nam thường chăm chú nghe giảng, rất ít khi hỏi và hầu như không bao giờ tranh cãi hoăc chất vấn tôi. Trái lại ở Mỹ tôi chỉ được giảng bài rất ít, đa số thời gian nhằm vào thảo luận tranh cãi trong những nhóm nhỏ, giữa những nhóm và cả lớp. Tôi thường chỉ định cho từng nhóm chọn những đề tài thảo luận đọc và sửa soạn trước khi đến lớp. Như vậy có nghĩa là mỗi tuần tôi phải đọc tất cả những đề tài của chừng 4 hoặc 5 nhóm trong một lớp để làm vai trò phối hợp, trọng tài và đóng góp thêm ý kiến. Ở Việt Nam tôi chỉ phải chấm bài thi lục cá nguyệt và kỳ thi cuối năm theo sách giáo khoa do bộ Quốc Gia Giáo Dục chỉ định, dùng đi dùng lại trong nhiều năm rất ít khi thay đổi. Tôi thuộc nằm lòng những sách chỉ định đó và không cần phải soạn giáo án lại. Chú thích (2) Cách đánh giá cho điểm học viên, sinh viên và giáo sư tại Việt Nam và tại Hoa Kỳ.

Sau đây tôi xin trình bày kinh nghiệm dạy học của tôi tại Mỹ. Sau 6 năm ở Mỹ và khoảng 3 năm sau khi lấy được bằng cao học khải đạo, tôi mới có cơ hội dạy học lại môn ESL tại trường đại học cộng đồng Portland Community College bán thời gian vào buổi tối. Thoạt tiên tôi chỉ dạy cho học viên Đông Dương Việt, Miên, Lào ở cả bốn trình độ A, B, C, và D sau đó họ có thể thi vào English as a Non-Native language và có thể xin trợ giúp tài chính (Finacial Aid) tiếp tục học ngành nghề hoặc những lớp hai năm chuyển tiếp tại đại học cộng đồng để lên đại học lấy bằng cử nhân. Ở những trình độ thấp tôi không bị áp lực nhiều bằng dạy lớp D vì phải cố dạy sao cho học viên đỗ vào ENNL để được trợ giúp tài chính tiếp tục đại học. Phương pháp dạy cũng rất khác với cách tôi được huấn luyện và dạy học ở Việt Nam. luyện giọng bằng cách nhắc đi, nhắc lại đã bị hoàn toàn bỏ đi. Tôi không được nói chậm để học viên dễ hiểu mà phải nói đúng theo tốc độ bình thường. Ở những cấp từ A đến C, việc dạy thường có trọng tâm là Anh để sinh tồn (Survival English) nhấn mạnh vào nghe và nói hàng ngày với những từ ngữ thức ăn, chuyên chở công cộng, an sinh xã hội v.v.. Riêng những học viên muốn học tiếp ở lớp D, tôi dạy đọc và viết để họ chuẩn bị thi vào ENNL. Vào những năm sau tôi có một số học viên tỵ nạn từ Ba Lan, Romania, Ukraine và Nga. Đây là thời gian dạy học tại Mỹ rất thoải mái và dễ dàng của tôi. Học viên rất lễ phép, chăm chỉ học hỏi, không chất vấn, khiếu nại và rất kính trọng tôi giống như học sinh ở Việt Nam. Khi dạy học, để học viên bớt căng thẳng, tôi cũng vẫn tìm những cơ hội để làm lớp học thoải mái và cười rộ với những câu chuyện hiểu lầm đơn giản do khác biệt ngôn ngữ hoặc văn hoá gây ra.

Tôi tiếp tục dạy ESL cho tới khi chương trình càng ngày càng thiếu tiền do ngân quỹ của chính phủ liên bang cấp. Đa số giáo sư bán thời gian đều bị cho nghỉ việc.

Khi sang làm việc tại khu học chánh Portland, ngoài việc khải đạo, tôi phải thuyết trình cho hội đồng giáo viên và ban giám đốc những trường trung học cấp 3 và toàn thể học sinh dòng chính (mainstream students) về học sinh ESL và truyền thông xuyên văn hóa (intercultural communication). Việc làm này tương đối cũng dễ dàng và được tiếp thu một cách thích thú và tích cực. Mọi người đều rất thích tìm hiểu và giúp đỡ học sinh ESL nên chăm chú nghe giảng và hỏi rất nhiều câu hỏi về những học sinh khác lạ và có nhiều khó khăn trong việc thích ứng vào ngôn ngữ và văn hoá mới của xã hội Mỹ.

Tuy nhiên tại trường trung học Franklin, tôi bị yêu cầu dạy một lớp da trắng trọc đầu (skinhead) sau khi hai em học sinh tỵ nạn Việt Nam không có người lớn đi theo (unaccompanied minors) đánh ngã và dùng giầy đế da đạp lên mặt một em da trắng trọc đầu đến nỗi phải chở vào nhà thương cấp cứu.Trong khi tình thế vẫn còn rất căng thẳng chỉ sau biến cố 2 hôm, bà social worker dạy lớp kỹ năng sinh tồn (survival skills) cho khoảng 20 em skinhead đã mời tôi đến lớp để làm giảm bớt căng thẳng giữa hai nhóm học sinh.  Mặc dù tôi đã giải thích không thể áp dụng khải đạo bằng cách  áp đặt giải thích, dù đúng hay sai , lên thân chủ hay học sinh, nhất là khi tôi là người Việt Nam, dễ bị đồng hoá, và hiểu lầm là về phe với nhóm Việt Nam. Bà giáo xã hội vẫn nài nỉ là tôi phải cố giúp bà vì bà không có kỹ thuật khải đạo (counseling skills) như tôi để làm dịu tình hình. Không thể từ chối được, tôi phải ra một điều kiện với bà là tôi không thể đề cập tới vụ xung đột và phải tạo được liên hệ khải đạo trước khi tiến tới làm giảm bớt căng thẳng. Đây có lẽ là lớp dạy học và huấn luyện khó nhất trong nghề dạy học của tôi. Khi tôi bước vào lớp, học sinh đang nhốn nháo chợt im bặt mọi cặp mắt đều đổ dồn về tôi nhìn tôi rất xoi mói trong khi bà giáo cán sự xã hội giới thiệu tôi là chuyên viên khải đạo đa văn hoá của trường. Tôi nói ngay là tôi trước tiên muốn bàn luận những đề tài mà học sinh lớp này thích thú trước khi nói tới điều tôi muốn bàn như tôi thường làm ở trường dạy nghề Vocational Village. Trong khi chưa có ai trong lớp nói gì tôi lại gợi ý là ở Vocational Village học sinh thường thích bàn luận về ma túy và tình dục (sex and drugs) hoặc ngăn ngừa Bệnh AIDS khi làm tình (make love). Học sinh bỗng ào ào đưa tay lên đóng góp ý kiến về bệnh Aid lúc đó còn rất mới tại Mỹ. Buổi thảo luận diễn ra khoảng 40 phút tôi chỉ có 5 phút nói về học sinh Việt Nam là họ cũng giống như học sinh Mỹ thích tìm hiểu bệnh Aid và những đề tài về tình dục ở tuổi dậy thì. Qua buổi nói chuyện thứ hai, tôi đã có thể nói về sự nghèo khó, thiếu học trong xã hội cộng sản hay ở trại tỵ nạn dẫn đến hành động hung hãn, bạo hành tạo thành thói quen bạo hành do phải tranh đấu, thích ứng để sinh tồn và  cũng vì những lo sợ, yếu kém tàng ẩn (tự ty mặc cảm) trong tâm lý những em học sinh tỵ nạn Việt Nam không có người lớn đi theo.

Trong buổi lên lớp khó nhất trong nghề dạy học của tôi này, tôi biết nhiệm vụ chính và quan trọng của tôi là tạo mối liên hệ với những em học sinh đó qua việc thảo luận những đề tài thích thú và kích thích óc tò mò của họ. Tôi đã áp dụng phương pháp học viên trọng tâm (student-centered) của tâm lý gia Rogers (8; 8A) một cách triệt để rồi sau đó mới tìm cách nói tới những tình cảnh và khó khăn của học sinh tỵ nạn Việt Nam không có người lớn đi theo cũng giống như tình cảnh nghèo và yếu kém về học vấn như họ. Tôi cũng không quên cảnh cáo ngầm là những học sinh Việt Nam này rất đáng sợ vì tính cách bất cần đời, hung bạo và giỏi mưu mẹo đường phố (street wise) học được trong những trại tỵ nạn không hơn thì cũng bằng họ. 

Việc căng thẳng giữa hai nhóm vẫn tiếp tục kéo dài cả hai tháng sau cho tới hè. Tuy vậy, bà social worker và ông phó hiệu trường Franklin cho tôi biết là họ rất ấn tượng và ghi nhận (impressed and appreciating) hai buổi hướng dẫn khải đạo thành công làm dịu căng thẳng của tôi tại lớp skinhead. 

Giảng dạy hai lớp "Multicultural Perspectives in Counseling" và "Counseling the Limited Proficient Student" tại đại học Portland States rất thích thú nhưng cũng rất mệt và tốn nhiều thời gian soạn bài và đọc thêm trước khi lên lớp. Sinh viên rất chăm chú học hỏi và luôn luôn chất vấn, tranh cãi với tôi trong tinh thần học hỏi và tôn trọng lẫn nhau. Tại những lớp cao học (graduate) này, tôi chỉ hướng dẫn những đề tài thật rộng liên quan tới khải đạo đa văn hoá, nhấn mạnh tới những yếu tố văn hoá trong nhiều khía cạnh của tiến trình khải đạo liên quan tới nhóm đa văn hoá (different cultures), chủng tộc khác biệt (racial differences), giới tính khác biệt (sexual differences), những vấn đề đa dạng (diversity issues) trong môi trường văn hoá Mỹ là văn hoá chính nguồn giữa khải đạo viên và thân chủ. Sau đó tôi cho sinh viên tự chọn nhóm của mình, nếu không tôi sẽ chỉ định vào 4 hoặc 6 nhóm trong lớp để nghiên cứu, đọc thêm tài liệu về văn hoá và tâm lý khác biệt của nhóm mình trình bày cho cả lớp để học hỏi bàn cãi  lẫn nhau với sự tham dự và điều phối của tôi. Đa phần

Khi chuyển sang làm toàn thời gian tại Đại Học Cộng Đồng Portland, tôi phải dạy những lớp khải đạo để giúp sinh viên chọn ngành nghề (Career Development) và để sinh viên thích ứng và thành công tại PCC như: College Survival and Success, College Study Skills, Test Anxiety, và Self-Confidence. Dạy những lớp này ngoại trừ hai lớp "Test Anxiety" và "Self-Confidence" tương đối dễ dàng vì không có tín chỉ (credits)

Lớp College Survival and Success (CG100) không đòi hỏi trình độ Anh Văn đại học dạy cho những sinh viên những điều cần biết những lớp chuẩn bị đại học, xin trợ cấp tài chính (financial aid) v. v.. để có thể theo học và tiếp tục học ở đại học. Lớp College Learning and Study Skills (CG111) đòi hỏi sinh viên phải có trình độ tiếng Anh đại học (WR 121) dạy sinh sinh viên những nguyên tắc tâm lý liên quan tới trí nhớ, cách học tùy theo tâm lý và thói quen từng người, cách sử dung thời gian (time management) v. v... lớp Career Development (CG140) Dạy cách tìm hiểu sở thích, khả năng, cá tính, và giá trị chủ quan của từng sinh viên qua thảo luận nhóm, lấy và bàn luận những trắc nghiệm tâm lý hướng nghiệp của từng sinh viên. Kế đến sinh viên được hướng dẫn tra cứu những nghề thích hợp với mình và tiến trình quyết định của mình để chọn nghề và chương trình theo học.

Hai lớp không có tín chỉ và ngắn hạn là lớp Self-Confidence dành cho sinh viên không tự tin có nhiều mặc cảm và lớp Test Anxiety  cho sinh viên có tâm lý quá căng thẳng trước những kỳ thi và trong lúc thi. Ở những lớp này, tôi hoàn toàn áp dụng lối giáo dục nhân vị trọng tâm của Rogers (8), dàn xếp cho sinh viên tự chọn và thành lập nhóm theo sở thích và cá tính của mình. Họ cũng được tự lựa chọn đề tài để thuyết trình trước cả lớp bao lâu tôi chấp thuận là nằm trong mục đích và phạm trù của môn học (hướng nghiệp, phương pháp học tập, hoặc những khía cạnh tâm lý liên quan tới lãnh vực của hai môn học đó).

image011image015                                         Dạy học tại trường Đại Học Cộng Đồng Portland Community College

Ở hai lớp "Test Anxiety" và "Self Confidence", tôi hoàn toàn áp dụng phương pháp trị liệu nhóm (group therapy), học bằng trải nghiệm (experiential learning) bằng thực tập (practicing) ngay tại lớp (8 A). 

Tôi phải đối phó với một số sinh viên rất lười học nhưng vẫn muốn được điểm lên lớp để tiếp tục hưởng trợ giúp tài chính (financial aid). Xin kể một mẩu chuyện vui sau đây:
Một sinh viên sau khi biết bị trượt khoá học đã lên phòng khải đạo hỏi tôi: "Tại sao ông cho tôi điểm "No Pass"? Tôi đã phải trả lời: " Tôi đâu có cho điểm anh.  Anh tự làm và kiếm được điểm của mình đấy chứ (you earned your grade)". Cùng lúc tôi rút ngăn kéo lấy syllabus và bản điểm có từng khoản điểm của anh chàng sinh viên láu cá, chỉ cho anh thấy từng phần một. Chú thích 3) Vấn đề kỷ luật ở học đường

image017
                                                                                  Lớp Vietnamese Heritage Language tại PSU

 

Tôi cũng gặp những vấn đề tương tự với sinh viên lớp "Vietnamese Heritage Language" tại PSU. Đa số là sinh viên Việt Nam và gần nửa lớp mới từ Việt Nam sang có em đã học đại học Việt Nam được vài ba năm. Những em này ghi học lớp tôi dậy chỉ là để dễ lấy được những tín chỉ nhiệm ý (elective credits) cho bằng cử nhân và nhất là đủ điểm trung bình "C" cho toàn học kỳ để tiếp tục hưởng trợ giúp tài chính. Dạy lớp như vậy, tôi phải chú trọng soạn bài cho sinh viên Mỹ và những em lớn lên hoặc sinh tại Mỹ. Tôi cũng day giống như những lớp tôi dạy tại trường Phan Sào Nam và ESL cho người tỵ nạn. Tôi dùng sách Colloquial Vietnamese của Tuan Duc Vuong và John Moore (Vuong and Moore; 2003). Tôi cũng phải tạo động lực và giúp những sinh viên đã giỏi tiếng Việt bằng cách dàn xếp với phân khoa ngoại ngữ PSU thiết lập một kỳ thi do tôi soạn đề thi cho những sinh viên này. Tại PSU, nếu họ đậu được kỳ thi sẽ đủ điều kiện lấy bằng B.A. (Bachelors of Arts) thay vì B.S. (Bachelors of Science) nếu không có khả năng ngoại ngữ. Đối với những sinh viên này, tôi chỉ định sách đọc thêm và yêu cầu đi học đều để làm trưởng nhóm và đóng góp kiến thức cho những sinh viên yếu hơn. (Chú  thích (4) Bằng B.A. và bằng B.S. trường  Portland State University "PSU")

Khi tôi làm chuyên viên tham vấn và thuyết trình viên (consultant and presenter) bán thời gian cho văn phòng chính sách nâng đỡ cho những nhóm thiểu số (Affirmative Action Office), tôi phải đại diên thiểu số Á châu cùng một ông giáo sư khải đạo gốc phi Châu, một bà Mỹ da đỏ và ông giám đốc người Mỹ gốc Châu Mỹ La Tinh đi thuyết trình cho toàn thể giáo sư PCC và nhân viên tại nhiều cơ quan khác nhau trong thành phố Portland. Những buổi thuyết trình này cũng rất gay go và căng thẳng vì đa số học viên tham dự đều phải đến theo sự bắt buộc của cấp trên và trong lòng họ không muốn học về những nhóm thiểu số và quyền người thiểu số gồm những đề tài như phân biệt chủng tộc, giới tính, vấn đề thiểu số khác biệt, hà hiếp tình dục v.v... (racial discrimination, sexual discrimination, diversity issues, sexual harassment etc...).  Đa số học viên thường có những mặc cảm tội lỗi (guilt feeling) với hai giảng viên da đỏ và da đen, ân cần hỏi nhiều câu hỏi về lịch sử quá khứ bị ngược đãi của hai nhóm thiểu số này. Ngược lại, đối với tôi, đại diện Á Châu và nhất là đối với ông đại diện người châu Mỹ La Tinh, họ hay chất vấn gay gắt và không có nhiều thiện cảm. Chỉ có một buổi hai bà học viên đã hỏi và thảo luân rất hăng say và thích thú với tôi về luật cấm người Tầu vào Mỹ năm 1882 "Chinese Exclusion Act 1882" và những trại tập trung người Nhật trong đệ nhi thế chiến. Một buổi khác một ông học viên hỏi về việc Mỹ dội bom và tấn công Campuchia nhưng chả có người nào hỏi về Việt Nam mình cả. Tôi đã phải tự ý nói thêm về Việt Nam và những thành quả của người Việt mình trên đất Mỹ. Đây là những buổi thuyết trình rất nhàm chán căng thẳng nhưng cũng rất quan trọng và cần thiết đối với tôi với tâm tình và ước muốn của một người thiểu số Á Châu mong được thông cảm và đối sử bình đẳng. Vì học viên bắt buộc phải dự lớp và không muốn học, phương pháp giảng dạy tại những buổi thuyết trình này hoàn toàn theo lối cải tạo, nhồi sọ "indoctrination" dùng tâm lý sợ và tôn trọng luật pháp, để học viên hiểu biết hơn về những luật mới liên quan tới đa văn hoá, khuyết tật và bình đẳng. Chúng tôi phải dùng phương pháp diễn giảng (lecture) đem những yếu tố tâm lý hành vi (động thái) (behaviorism) của Watson, Pavlov và Skinner (9) lập đi lập lại, nhồi sọ, cải tạo tăng cường qua những án lệ kiện tụng về kỳ thị giới tính, chủng tộc v.v... để khuyến dụ học viên nghe theo và chấp nhận những lời chúng tôi giảng dạy.

Thuyết trình kiểu nhồi sọ những buổi này và lớp dạy học sinh đầu trọc làm tôi nhớ tới những buổi học tập cải tạo và  thuyết giảng của thuyết trình viên giáo dục "giải phóng" mà tôi là nạn nhân vừa phải ngồi học vừa buồn ngủ gà ngủ gục. Điều tệ hơn là những người "giải phóng này thường ít học, giống như những con vẹt và không biết một chút gì về tâm lý giáo dục cả. Tuy nhiên khi có học viên thích thú về một vài khía cạnh trong nội dung giảng dạy do những lý do khác nhau, chúng tôi thường nắm lấy cơ hội liên kết tới những điều chính của nội dung chuơng trình dạy. Trong tiến trình làm công việc này, tôi đã học hỏi được rất nhiều điều mới lạ từ những thuyết trình viên thiểu số khác, từ những điều tôi đọc thêm về người Mỹ gốc Á Châu khác và nhất là những phản hồi tâm lý phức tạp của học viên dòng chính.

2 Về hưuVề Hưu
Long Thành (2)Hội ngộ Long Thành 2014

Đối với tôi dạy học ở Việt Nam cũng như ở Mỹ đều có những khó khăn, mệt nhọc và thích thú say mê tuy khác nhau nhưng vẫn là trao đổi, học hỏi, tương trợ lẫn nhau giữa thầy và trò. Những học sinh, sinh viên, và học viên tại Mỹ đã giúp tôi luôn luôn phải trau dồi kiến thức chuyên môn qua thảo luận và tranh cãi và qua những đánh giá việc dạy học của tôi trước khi lớp học kết thúc. Ngược lại, tuy học sinh và sinh viên ở Việt Nam không dạy và giúp tôi phát triển kiến thức mới nhưng đã dạy tôi rất nhiều về những đức tính nhân bản như tính chăm chỉ, cần cù, nhẫn nại, chịu đựng và tình thương yêu kính trọng thầy cô tuyệt đẹp khó tìm được trên đất Mỹ.

Đỗ Thế Vinh, Ph. D

 

CHÚ THÍCH

 

Chú thích (1) Chương trình học của tôi ở Đại Học Sư Phạm và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn tại Việt Nam

Tại Đại Học Sư Phạm tôi phải học 4 năm từ 1964 đến 1968 từ năm dự bị đến hết năm thứ ba mới được ra trường. Chúng tôi bắt buộc phải đến lớp đều đăn và giáo sư rất dễ kiểm soát vì chỉ có khoảng 40 sinh viên trong lớp. Tại Đại Học Văn Khoa tôi chỉ phải học xong chứng chỉ dự bị và bốn chứng chỉ đòi hỏi của bằng Cử Nhân Giáo Khoa Triết Học Tây Phương mà không bắt buộc dự lớp. Tôi chỉ cố trốn lớp ở ĐHSP nếu có cơ hội để dự lớp Đạo Đức Học của linh mục Gautier giảng bằng tiếng Pháp tại ĐHVK vì lúc đó tiếng Pháp của tôi hơi yếu. Tất cả những lớp khác tôi đều chỉ lấy "cours" về học. Tôi đã học xong bằng "Triết Học Giáo Khoa Tây Phương" khoá hai năm 1967.

Tôi tuy đã hoàn tất cả mọi lớp đòi hỏi của bằng cao học giáo Dục ban Anh Văn  và đã viết gần xong tiểu luận nhưng không trình được vì tình hình chính trị rất xáo trộn lúc đó và giáo sư bảo trợ phải rời Việt Nam. 

Chú thích (2) Cách đánh giá cho điểm học viên, sinh viên và giáo sư tại Hoa Kỳ tại và Việt Nam

Tại Hoa Kỳ, tôi phải đánh giá cho điểm học viên và sinh viên qua nhiều lãnh vực như bài viết hàng tuần sau khi đọc vấn đề do tôi chỉ định đọc, dự lớp và sinh hoạt nhóm, trắc nghiệm giữa khóa, kỳ thi cuối khóa, bài làm bổ túc nếu chưa đủ điểm. Trái lại ở Việt Nam, tôi chỉ đánh giá học sinh qua việc dự lớp đều, kỳ thi lục cá nguyệt và kỳ thi cuối năm, hoặc thi tú tài I và II. Đôi khi tôi phải đánh giá hạnh kiểm để cho phần thưởng. Ở Mỹ điểm của sinh viên phải bảo mật chỉ tôi và sinh viên đó biết  và có 5 cấp từ A đến F, trong khi ở Việt Nam điểm được công bố cho cả lớp và được xếp hạng từ 0 cho đến 20.

Tại Mỹ, sau khi vào chính ngạch (biên chế) hay ngay cả khi tôi dạy học bán thời gian cho sinh viên, kể cả những sinh viên cao học khải đạo tại đại học Portland State, tôi cũng chỉ bị đánh giá và kiểm soát bởi tất cả sinh viên trong những lớp tôi dạy mà không bị khoa trưởng hay trưởng hội đồng ban Anh Văn hay ban khải đạo kiểm soát  theo dõi, nâng đỡ khuyên nhủ nữa. Một điểm cần nhấn mạnh việc đánh giá và phê bình của sinh viên Mỹ rất khác với học sinh "khăn đỏ" công an chỉ điểm ở Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa. Những bản phê bình đánh giá việc dạy học của tôi vào giữa và cuối khoá học thường chú trọng vào việc học sinh và sinh viên học được điều muốn học ở lớp nhiều hay ít và nếu tôi đổi cách dạy hoăc nội dung dạy thế nào thì hợp và dễ học hơn với họ. Tôi đã học hỏi và thăng tiến cách dạy học rất nhiều với những phê bình xây dựng này. Tuy nhiên ở đại học công đồng đôi khi tôi cũng gặp những sinh viên Mỹ lười biếng, không học  nhưng vẫn muốn đậu để tiếp tục hưởng trợ cấp tài chính (financial aid).

Tại Việt Nam giáo sư cho điểm theo những tiêu chuẩn bộ giáo dục đề ra qua sách giáo khoa và những kỳ thi toàn quốc, do đó thầy cô chỉ cần theo những tiêu chuẩn đó để cho điểm. Tại Mỹ mỗi học khu (school district) đều ấn định sách giáo khoa khác nhau và có những tiêu chuẩn khác nhau tùy thuộc hoàn cảnh kinh tế và chính trị địa phương. Trên đại học giáo sư tự đặt tiêu chuẩn cho điểm dựa vào hội đồng giáo sư ngành chuyên môn của mình, căn cứ trên những đòi hỏi của vùng của trường (thí dụ vùng Tây bắc Hoa Kỳ). Học sinh Mỹ được đánh giá qua nhiều lãnh vực khác nhau không phải chỉ một cách là thuộc lầu sách giáo khoa một cách từ chương như ở Việt Nam. Sau hết đối với những tiêu chuẩn và lãnh vực đánh giá sinh viên ở Mỹ tôi luôn nhớ phải viết rõ ràng từng phần một ngay trên lịch trình khoá học (syllabus) phát cho sinh viên ngay ngày đầu tiên để tránh tranh cãi, kiện tụng khi sinh viên bị điểm thấp nhất là khi bị điểm D, F, hay No-Pass.

Chú thích 3) Vấn đề kỷ luật ở học đường tại Việt Nam và tại Hoa Kỳ

Vấn đề kỷ luật cũng rất khác khi so sánh giáo dục Việt Nam với Hoa Kỳ . Ở Việt Nam nhấn mạnh tới những quy luật kỷ luật theo từ trên xuống dưới thấm nhuần văn hoá Khổng Mạnh, trên dưới trước sau (quân, sư, rồi mới đến phụ). Học sinh phải học đức dục và luân lý từ bậc tiểu học. Phần thưởng tuyên dương cuối năm có phần hạnh kiểm rất quan trong. Ngược lại, kỷ luật tại Hoa Kỳ rất dân chủ, bình đẳng và tôn trọng tất cả tính đa văn hoá, tự do tôn giáo và luân lý đức dục của từng học sinh, từng gia đình và từng nhóm sắc tộc cũng như tôn giáo. Do đó, những trường tiểu học và trung học công lập tại Hoa Kỳ không dạy đức dục và công dân giáo dục. Điều cốt lõi là phải theo luật lệ để giữ trật tự từ hiến pháp Hoa Kỳ, hiến pháp tiểu bang và những chính sách kỷ luật do thành viên dân biểu từng khu học chính (school district board members) do phụ huynh của mọi tôn giáo chủng tộc và tầng lớp giai cấp bầu chọn ấn định. 

Chú  thích (4) Bằng BA  và bằng BS trường  Portland State University (PSU)

 Sinh viên trường   PSU chọn ngành nhân văn (humanities) và khoa học xã hội (social sciences) khi hoàn tất bằng cử nhân có thể chọn lấy BS (Bachelor of Science) khi hoàn tất 1 lớp toán hay toán thống kê trình độ đại học. Nếu chọn lấy  bằng BA (Bachelor of Art) phải hoàn tất hai năm ngoại ngữ hoặc đậu kỳ thi tương đương trình độ học hết năm thứ hai của một ngoại ngữ. (5) 

 

 

Bài Trích Dẫn Trên Mạng (Retrieved from the Internet)

(1) Giáo sư Nguyễn văn Lục trên website Ngô Quyền (Truy cập lại được ngày 10-01-2019):

http://www.ngo-quyen.org/a705/gs-nguyen-van-luc-nhin-lai-viec-thi-tu-tai-o-viet-nam-truoc-1975

(1 B) Xin xem thêm bài của GS Nguyễn Văn Lục (Truy cập lại  được ngày 11 tháng 1 năm 2019): 

http://www.ngo-quyen.org/p79a5514/2/gs-nguyen-van-luc-mot-so-kinh-nghiem-ve-20-nam-nen-giao-duc-mien-nam-phan-2-

 

(2) De Saussure bằng tiếng Anh (Truy cập lại được ngày 10-01-2019):

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ferdinand_de_Saussure

(3) Giáo sư Đàm Trung Pháp về việc dạy ESL tại Mỹ (Truy cập lại được ngày 10-01-2019):

http://viethocjournal.com/2018/12/ngo-lai-loi-hoc-tieng-anh-thuo-ay-va-uoc-chi/

(4) Giáo sư Chu Hảo và Giáo sư Ngô Bảo Châu phê bình gay gắt nhưng xây dựng của hai GS Ngô Bảo Châu và Chu Hảo nghiên cứu khoa học tại VNXHCN trên utub sau đây, Truy cập lại được ngày 08-01-2019):   

http://www.youtube.com/watch?v=mLoKRXAWR70

 

(5) Bằng BA hay BS ở PSU (Truy cập lại được ngày 10-01-2019):

http://www.pdx.edu/advising/bachelor-arts-bachelor-science-bachelor-music-bachelor-fine-arts

 

(6) Bác Sỹ Kinzie bằng tiếng Anh  (Truy cập lại được ngày 20-01-2019):

http://www.ohsu.edu/people/jdave-kinzie/480374DFF74846CE8FC1E56C5967E2F9

(7) Tiến sỹ Spero Manson bằng tiếng Anh  (Truy cập lại được ngày 20-01-2019):

http://www.ucdenver.edu/academics/colleges/PublicHealth/research/centers/CAIANH/GUMSHOEprogram/biosketches/Pages/Spero-Manson.aspx

 

(8) Carl Rogers, Giáo dục nhân vị trọng tâm (person centered) bằng tiếng Anh (Truy cập lại được ngày 04 tháng 1 năm 2019):  

http://www.ibe.unesco.org/sites/default/files/rogerse.PDF

(8A) ) Carl Rogers, Encounter group, T group Therapy bằng tiếng Anh (Truy cập lại được ngày 04 tháng 1 năm 2019):  

 

(9) Thuyết hành vi trong giáo dục (Truy cập lại được ngày 04 tháng 1 năm 2019):  

http://vietpsy.wordpress.com/2011/10/08/vi-sao-nguoi-ay-van-chua-ngo-loi-hen-ho/

 

Sách tham khảo (References)

 

 

          Dewey, J. (2011) Democracy and Education. Milton Keynes: Simon and Brown.

Hofstede, G. (1983). Dimensions of national culture in fifty cultures and three regions. In G. B. Deregowski, S. Dziurawiec, & R. C. Annis (Eds.), Expiscations in cross-cultural psychology (pp. 335-355). Lisse, the Netherlands: Swets & Zeitlinger.

Kinzie, J. D., Manson, S. M., Do, T. V., Nguyen, T. T. L., Bui, A., & Than, N.P. (1982). Development and validation of a Vietnamese language depression rating scale. American Journal of Psychiatry, 139, 1276-1281.

          Rogers, C. and Freiberg, H. J. (1993) Freedom to Learn (3rd edn.), New York: Merrill. 

          Vuong, T.; Moore,J. (2003) Colloquial Vietnamese (4th edn.) Routhledge, New York: New York

 

 

 

09 Tháng Tám 2019(Xem: 572)
tôi đã bước một quãng đời quá dài với không biết bao nhiêu lần vấp ngã. Những vấp ngã nầy là những lao đao trên bước đường đời
06 Tháng Tám 2019(Xem: 65)
Một bài thơ chỉ bốn câu Mà mang theo đủ sắc màu đổi thay Xin dừng ngọn bút nơi đây Ngày sau nối tiếp cho đầy túi thơ!
05 Tháng Tám 2019(Xem: 150)
Chúng ta ngưỡng mộ và tiếp nối những bước chân tiền nhân. Biên Hòa vẫn mãi mãi trong trái tim chúng ta.
03 Tháng Tám 2019(Xem: 198)
XIN CÁC VỊ HÃY YÊN NGHỈ. NƯỚC MỸ VÀ CẢ THẾ GIỚI ĐỀU TRI ÂN CÁC NGƯỜI.
01 Tháng Tám 2019(Xem: 111)
*Xin bấm vào phần Youtube bên dưới để thưởng thức: MÃI NGHE TIẾNG MUÔN TRÙNG - Nhạc Phạm Chinh Đông – Trình Bày Đoàn Minh
25 Tháng Bảy 2019(Xem: 474)
Cuộc đời vẫn trôi đi và tình cảm Ngô Quyền lúc nào cũng vui và đẹp như hoa nở trong vườn trong sương mai. Nhìn lại bước đường đi qua,...Nhìn lại để cám ơn trời, cám ơn đời, cám ơn thầy cô, cám ơn các bạn...
22 Tháng Bảy 2019(Xem: 225)
...Một nhân tài VN đã dám sống tận tụy một tay chăm sóc mọi việc lớn nhỏ cho đến nổi kiệt sức trút hơi thở cuối cùng.
21 Tháng Bảy 2019(Xem: 1391)
Mỗi năm già thêm một tuổi, nhưng khi về họp Ngô Quyền vào đầu tháng 7 hàng năm thì tưởng như vẫn mãi là "em mười sáu tuổi trăng mười sáu...***
20 Tháng Bảy 2019(Xem: 319)
Kính chúc các Thầy cô luôn khỏe mạnh và an vui. Chúc các bạn hạnh phúc và bình an bên gia đình. Ngày hè sang năm chúng ta lại gặp nhau đông vui và có nhiều đổi mới. Nguyện ơn trên gia hộ chúng ta.
20 Tháng Bảy 2019(Xem: 433)
Ở Mỹ hơn 44 năm, lần đầu tiên Tôi solo theo ACE ĐMNQBH đi xe đò Hoàng từ OC lên San Jose tham dự Ngày Họp Mặt Truyền Thống THNQBH2019, tổ chức tại Bắc Cali,vào dịp Quốc Khánh HK July Fourth
18 Tháng Bảy 2019(Xem: 340)
Các bạn ơi! Sẵn sàng nhé, thêm một tay chèo chuẩn bị cho ngày tuyển cử Ban Chấp hành Ngô Quyền 2020. .. Mong đa số đều có ý tưởng đoàn kết, yêu thương và có trách nhiệm để tiếp tục phụ lái con thuyền NQ ra biển lớn.
14 Tháng Bảy 2019(Xem: 223)
cuộc tranh cử làm ứng cử viên Tổng Thống của Đảng Dân Chủ Mỹ đã chính thức bước vào giai đoạn khốc liệt với những cuộc tranh luận gay gắt giữa những chuẩn ứng cử viên trong cùng một chánh đảng.
13 Tháng Bảy 2019(Xem: 584)
Cho nên còn vui được ngày nào cứ vui, còn gặp nhau được ngày nào cứ đến, còn hít thở được thì hãy sống an lành. Không để những giận hờn hay đố kỵ chiếm hết quỷ thời gian còn lại của mình.
13 Tháng Bảy 2019(Xem: 206)
Với thời gian, những danh tính và sự kiện trong tập hồi ký này có thể sai lạc, mong người đọc thông cảm bỏ qua hay đính chánh giùm.
02 Tháng Bảy 2019(Xem: 755)
Các chs NQ khóa đàn em, K16, K17, K18, và K19 sẽ giúp BTC phân phối vé số. Mong các đàn anh, đàn chị "thấy em nhỏ xíu, anh (chị) thương” ủng hộ cho nhiệt tình của các cô em út lần đầu đưa vai vác ngà voi.
29 Tháng Sáu 2019(Xem: 366)
Kính chúc ngày họp mặt thành công tốt đẹp. Chúng ta sẽ có một buổi tối trọn vẹn tình thầy trò. Những món ăn ngon, văn nghệ thật hay và một đêm không quên đầy kỷ niệm đẹp.
16 Tháng Sáu 2019(Xem: 272)
Cứ mỗi lần Tháng Sáu đến là tôi lại nhớ đến Ngày Của Cha thường được tổ chức vào ngày Chủ Nhật của tuần lễ thứ ba trong tháng Sáu. Ngày Lễ Của Cha năm nay là Ngày Chủ Nhật 16 Tháng Sáu năm 2019.
16 Tháng Sáu 2019(Xem: 250)
*Xin bấm vào phần Youtube bên dưới để thưởng thức: MÔT MAI - Nhạc Phạm Chinh Đông - Tác giả hòa âm - trình bày
08 Tháng Sáu 2019(Xem: 409)
Tới Toronto, tôi lại phải làm thông dịch cho những người định cư ở thành phố này để làm thủ tục nhập cảnh vào Canada và sau cùng là cho tôi.
07 Tháng Sáu 2019(Xem: 987)
Sanh lão bệnh tử là qui luật thường tình của một kiếp người, miễn sao có một đời sống tốt đẹp từ đôi bàn tay của mình, để không hổ thẹn khi phải xuôi tay