Danh mục
Danh sách tác giả
TIN TỨC MỚI
05 Tháng Năm 2018
Đây là tổng hợp các danh sách Mạnh Thường Quân từ năm 2016 đến 2018 được xếp theo thứ tự tên người bảo trợ nhiều nhất.
14 Tháng Mười 2016
Bộ sưu tập Bài Viết, Video, Hình ảnh của Thầy Hiệu trưởng Phạm Đức Bảo
23 Tháng Mười Một 2015
THANKGIVING 2015 Ngô Quyền Tri Ân Thầy Cô Thực hiện: Nguyễn Thị Thêm
16 Tháng Bảy 2015
VIDEO Đài FreeVN.net - 2 giờ 15 phút : NGÔ QUYỀN HỌP MẶT TRUYỀN THỐNG 2015
23 Tháng Sáu 2018
. Thứ súng cây này thời bây giờ tụi nhỏ chắc không biết đến đâu, nhưng vào thời đó là món đồ chơi giá trị vào những ngày tháng cuối năm, Tết sắp đến... .
22 Tháng Sáu 2018
*Xin bấm vào phần Youtube bên dưới để thưởng thức: "Con Đường Có Hàng Phượng Tím"-Thanh Trang (Tâm Hảo) & Từ Đó Khôn Nguôi -Tuấn Khanh (Duy Quang) Kiều Oanh thực hiện youtube
22 Tháng Sáu 2018
Ngày dài đêm ngắn canh thâu Mặt trời đứng ngủ đỉnh đầu ban trưa Tình phơi mưa nắng giao mùa Đón Ngày Hạ Chí mới vừa bước qua.
22 Tháng Sáu 2018
... lời tuyên bố của Mussolini tuyên bố ngày 20 tháng ba-1945 như sau:” Không ai có thể xóa bỏ được 20 năm lịch sử của chủ nghĩa Phát Xit tại nước Ý”.
22 Tháng Sáu 2018
tôi xin gửi "thêm" cho Ban Báo chí $50 dollars, như là một đóng góp nhỏ về tài chánh và cũng là một cảm thông chung về những kỷ niệm của ngày xưa thân ái...
21 Tháng Sáu 2018
Kinh hoàng thâm độc âm mưu. Thương dân, thương đến thiên thu nước nhà Nỗi lòng dân Việt phương xa. Ơn trên xin giúp sơn hà Việt Nam.
21 Tháng Sáu 2018
“Kỳ Viên”, khu đất rộng mênh mông, Thanh tịnh, an vui, như cõi Non Bồng. PHẬT đến nơi đây, 24 mùa lá rụng, 24 mùa thay lá, Độ chúng sanh.
20 Tháng Sáu 2018
Nếu nhìn kỹ lại trong các kỳ World Cup vừa qua đã có hiện tượng "đặc biệt" là các đương kim vô địch đều bị "văng" ra và "cuốn gói" đi về ngay trong vòng bảng
18 Tháng Sáu 2018
Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày “Từ Phụ”. Thục Vũ nghĩ mãi, cố gắng tìm một món quà nào thật qúy giá để tặng Bố, Bố rất giản dị, Bố không thích quà cáp tốn tiền.
17 Tháng Sáu 2018
Tới đây, tôi rất vui mừng loan tin là quyển Ngô Quyền Toàn tập của chúng mình đã được trịnh trọng đem vào nhà in rồi. Nhóm thực hiện sau bao nhiêu đêm thức khuya dậy sớm
17 Tháng Sáu 2018
Nhìn Về Quê Hương: Một số tài liệu & tin tức về sự phản kháng Luật Đặc Khu99. Xin đúc kết lại sau đây để chuyển 1 thông tin cần phải có
17 Tháng Sáu 2018
Tháng 6 có nước mắt của những người con mất Cha, ngậm ngùi săm soi gót chân mình xem đã lấm bùn từ lúc nào, từ ngày 30 tháng 4, hay từ ngày thân phụ khuất bóng?
17 Tháng Sáu 2018
Ngày nay đất nước tơi bời, Bạo quyền độc ác suốt đời gian manh. Em ơi đứng dậy cùng Anh, Một lòng cứu nước hãy nhanh đuổi Tầu.
Số lượt truy cập
4,661,231

GS Trần Minh Đức - Hồi Ký Của Một Người Yêu Biên Hòa: Cuộc Đời Đi Dạy Và Đi Học, Đi Làm.

04 Tháng Hai 200912:00 SA(Xem: 32382)
GS Trần Minh Đức - Hồi Ký Của Một Người Yêu Biên Hòa: Cuộc Đời Đi Dạy Và Đi Học, Đi Làm.

 

 

HỒI KÝ CỦA MỘT NGƯỜI YÊU BIÊN HÒA:

 

CUỘC ĐỜI ĐI DẠY, VÀ ĐI HỌC, ĐI LÀM.

 

3_2thay_tranminhduc-content

L.S. Trần Minh Đức

 

Lời giới thiệu:

 

Luật sư Trần Minh Đức là một trong 4 vị Giáo Sư đầu tiên khai giảng Trung Học Ngô Quyền, Biên Hòa, vào năm 1956. Sau khi đi Pháp để soạn luận án Tiến Sĩ Văn Chương vào năm 1960, và tốt nghiệp Viện Khoa Học Chính Trị của Đại Học Paris, ông đã được mời sang Hoa Kỳ làm việc cho Cơ Quan Thông Tin Mỹ. Sau đó, ông tiếp tục học lấy bằng Tiến Sĩ Luật Khoa Hoa Kỳ (Juris Doctor) và đậu vào Luật Sư Đoàn Tòa Thượng Thẩm thủ đô Washington. Sau khi hồi hưu tại đài Tiếng nói Hoa Kỳ, ông nhận làm Cố Vấn Pháp Luật cho một công ty lớn của Hoa Kỳ là Industrial Associates International, và sau 2 năm, được đề bạt lên chức Phó Chủ Tịch của công ty. Công ty này hoạt động tại Trung Quốc và Singapore về việc xây cất các hạ tầng kiến trúc như cầu đường, xa lộ, chung cư....

Về mặt sinh hoạt Cộng Đồng, ông từng giữ các chức vụ sau đây:

- Chủ Tịch Hội Sinh Viên Quốc Gia tại Pháp (1961)

- Chủ Tịch Hội Ái Hữu Việt Kiều tại Hoa Thạnh Đốn (1968)

- Chủ Tịch Hội Luật Gia Việt Nam tại Hoa Kỳ (1980)

- Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Hoa Thạnh Đốn (1982)

 

 

 

Vào năm 1956, tôi mới là một sinh viên Đại Học Văn Khoa, ban Cử Nhân Giáo Khoa Pháp Văn, đậu được 3 chứng chỉ là Propédeutique de Lettres Francaises, Grammaire et Philologie Francaises, và Littérature Francaise, thì nảy ra ý định đi dạy học vì đã đậu được 3 chứng chỉ chính của bằng Cử Nhân.

Tôi nộp đơn tại Nha Học Chánh thuộc Bộ Quốc Gia Giáo dục, và được bổ làm Giáo Sư Đệ Nhứt cấp công nhựt, dạy môn Pháp Văn tại trường Trung Học Pétrus Ký, ở Sàigòn.

 

Trong lúc đó, tôi lại được ông Hồ Văn Tam, Hiệu Trưởng trường Nguyễn Du, Biên Hòa, cho biết rằng ông đang cần một giáo sư dạy Anh Văn cho trường Ngô Quyền vừa được phép khai giảng vào năm 1956. Ông cho biết sẽ biệt phái một số giáo viên Tiểu Học dạn dày kinh nghiệm qua Trung Học Ngô Quyền để dạy cấp Trung Học. Cái khó của ông là phải tìm một Giáo Sư Anh Văn, vì vào thời 1956, có rất ít Giáo Sư dạy Anh Văn, tương đối là một ngôn ngữ mới trong chương trình giảng dạy.

 

Điều này làm tôi suy nghĩ, vì tôi có gốc gác lâu đời tại Biên Hòa, từ thời ông Cố của tôi là Tri Huyện Trần văn Tứ, sinh quán tại đây. Người con trưởng của ông Cố tôi là ông Trần Văn Thông, gốc Biên Hòa, đi Pháp du học, sau về được bổ làm Tổng Đốc tỉnh Nam Định ở Bắc kỳ, có đến 3 dòng con, mà những người nổi tiếng nhất là Luật sư Trần Văn Chương, Bộ Trưởng Ngoại Giao của Chính Phủ Việt Nam đầu tiên, là Chính Phủ Trần Ttrọng Kim. Người thứ hai là Bác Sĩ Trần Văn Đỗ từng nhiều lần tham chính, và từng là Bộ Trưởng Ngoại Giao vào lúc Hiệp định Genève năm 1954, mà ông phản đối, không ký. Người thứ 3 là Chánh Án Trần Văn Trí, Chánh Thẩm của Tòa Phá Án Việt nam.

 

Ba tôi là Bác sĩ Trần Văn Châu, làm việc tại nhà thương Chợ Rẫy, thành hôn với má tôi là cô giáo Phan Thị Nữ, người phụ nữ đầu tiên có bằng Diplôme, tại tỉnh nhà, và là bà con cô cậu với các ông Chương, Đỗ và Trí. Vì gốc gác cố cựu tại Biên Hòa, tôi lên Nha Học Chánh xin đổi sự vụ lệnh, về dạy Anh Văn tại Ngô Quyền, vì tôi có vốn liếng 6 năm học Anh Văn tại Lycée Yersin Đalat, và một năm luyện giọng Anh Văn tại tổ chức tiền thân của Hội Việt-Mỹ tại Saigòn.

 

Ba vị Giáo Viên già dặn kinh nghiệm được phái qua dạy Trung Học Ngô Quyền cũng là bậc chú bác, bậc Thầy của tôi. Thầy Đinh Văn Sái đã dạy tôi ở lớp Moyen 2 và Supérieur tại trường Tiểu Học Biên Hòa, lúc đó còn theo chương trình Pháp, học tiếng Pháp từ lớp chót (enfantin). Thầy đã thương yêu tôi, nên bỏ công trong 2 tháng nghỉ hè, luyện tôi thêm về Pháp Văn để thi tuyển vào Pétrus Ký. Tôi nhớ đã học với Thầy hàng ngày, nơi bộ ván để sau garage của ông Đỗ Cao Lụa, thân sinh ra bạn đồng học với tôi là anh Đỗ Cao Thanh.

 

Giáo Sư thứ 2 có bà con với tôi, tôi gọi là Dượng Hai. Đó là thầy Bùi Quang Huệ. Ở gần nhà Dượng Hai Huệ, trong một căn phố ở đường Hàng Dương, là thầy Phạm Văn Tiếng, thân phụ của 2 anh Sĩ quan Không quân Phạm Kim Ngôn và Phạm Kim Lân, bạn của tôi.

 

Như thế, tôi đã liên tiếp dạy 2 niên khóa tại Ngô Quyền, năm đầu tại trường Tiểu Học Nguyễn Du, năm sau dọn lại trường Nữ Công Gia Chánh. Vì đây là những ngày tôi bắt đầu cuộc đời Sư Phạm, nên cố gắng rất nhiều, dạy liên tục không hề nghỉ một phút. Tôi dùng sách Anh Văn của chương trình Pháp, (sixième et cinquième bleu) và luyện giọng Anh Văn theo đúng phương pháp mà tôi đã học được nơi tổ chức tiền thân của Hội Việt-Mỹ. Vì quá hăng hái, tôi dạy hơi nhanh, nên có lúc đã nghe thầy Sái phê bình: “ông Đức dạy cho học trò giỏi thôi, chứ học trò trung bình thì khó theo kịp.” (từ khi làm Giáo Sư, Thầy Sái đổi cách xưng hô với tôi, luôn gọi là ông Đức, chứ không phải là em Đức, như trước.) Tôi thành khẩn chấp nhận khuyết điểm, và từ đó, tôi dạy chậm lại, dành thì giờ giảng nghĩa rõ hơn, cho các học sinh trung bình theo kịp.

 

Tôi rất kính và thương yêu Thầy Sái, vì Thầy đã dạy tôi 2 năm ở lớp Nhì (cours Moyen 2) và lớp Nhất (cours Supérieur). Lúc đó, Thầy còn rất trẻ, chuyên thêm việc làm Moniteur cho chúng tôi luyện tập thể thao. Thầy có đi học khóa Moniteur ở Phan Thiết, cùng với thầy Miên. Hai Thầy chung phụ trách việc tập thể thao cho học sinh. Thầy Sái còn dạy cho chúng tôi hát một bài hát mà đến ngày nay, tôi còn nhớ mãi: ”Ngừng chèo lại đây, cô lái đò ơi, ngừng chèo lại đây giây phút ngừng bơi...” Tôi nhớ mãi đến ngày nay, khi Thầy đã ra người thiên cổ.

 

Một điều tôi còn nhớ nữa là Thầy rất tin cẩn tôi. Mỗi lần đọc Dictée Francaise, Thầy chấm điểm cho tôi trước tiên, cho biết những chỗ sai phạm, rồi Thầy cho tôi quyền chấm điểm các bạn học khác.

 

Khi còn trẻ, tôi rất ham chơi đá banh (bây giờ, họ gọi là bóng đá!) Tôi gia nhập Đội banh Tỉnh nhà, đội Biên Hùng. Thầy Sái cũng rất ham coi đá banh, tuần nào cũng có mặt tại khán đài. Tôi đá được vài lần, một bữa Thầy Sái vào trường nói với tôi: ”Ông Đức đừng đá banh nữa, làm Giáo Sư Ttrung Học rồi, mà còn đá banh, coi không được.” Tuy không đồng ý, tôi cũng theo ý kiến Thầy, đổi qua đá cho Hội Banh Cercle Sportif ở Sàigòn. Lúc còn trẻ, tôi ham vui, chơi với bạn bất kể là bình dân hay có học, và nơi nào trong tỉnh Biên Hòa cũng đều có tôi lui tới. Nhận lời khuyên bảo của Thầy Sái, tôi cũng ít đi chơi với bạn bè.

 

Dượng Hai Bùi Quang Huệ là người dễ tính, vui vẻ, hề hà, không bao giờ chỉ trích ai. Tôi nhớ Dượng Hai rất mê bài Tứ sắc, cứ lâu lâu gây sòng một lần. Bây giờ Dượng Hai, Cô Hai tôi cũng đã quá vãng, đời người coi vậy mà nhanh quá!

 

Thầy Phạm Văn Tiếng là một giáo viên mẫu mực, khoan hòa. Thầy là cha của 2 anh Phạm Kim Ngôn, đá banh chạy trung phong rất giỏi, cũng vào cỡ trung phong Trần Văn Ràng, chủ tiệm vàng của ông Sáu Kiêu, nay cũng đã mãn phần, và anh Phạm Kim Lân, bạn đồng lớp với tôi ở Pétrus Ký. Anh Lân hiện còn sống tại Việt Nam, dù có thể hưởng quy chế H.O. Lần nào về Việt Nam, tôi đều đến thăm anh, vì anh là người bạn học duy nhất còn lại ở Biên Hòa. Tôi nhớ khi tôi dời lên trường Lycée Yersin ở Đà Lạt, mỗi lần về Sàigòn, tôi và anh Lân đèo nhau chạy mobylette đến Hồ Con Rùa, đã rất khuya mà còn kể chuyện Tiêu Sơn tráng sĩ cho nhau nghe. Ôi! Thời bình sao mà êm đẹp quá!

 

Đến năm 1958, tôi đậu đủ các chứng chỉ cần thiết cho bằng Cử Nhân Giáo Khoa Pháp Văn, và được Nha Học Chánh cải ngạch làm Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp, dạy từ lớp đệ Tam trở lên. Tôi buộc lòng từ giã các học sinh và đồng nghiệp ở Ngô Quyền, vì vào năm đó, lớp cao nhất ở Ngô Quyền chỉ là lớp Đệ Ngũ. Tôi về Sàigòn, dạy trường Pétrus Ký và dạy thêm ở các trường Les Lauriers và Âu Lạc.

 

Tôi dạy ở Sàigòn được 2 năm, đến năm 1960, tôi được Phái Bộ Văn Hóa Pháp (Mission Culturelle Francaise) cho biết bang giao Việt-Pháp được cải thiện, và Tổng thống Ngô Đình Diệm không còn cấm chỉ việc du học tại Pháp nữa. Phái Bộ Văn Hóa cũng cho biết, tôi được học bổng của Phái bộ, đi Pháp để soạn luận án Tiến Sĩ Văn Chương tại Đại Học Sorbonne, trong chương trình đào tạo Giáo Sư Đại Học cho Việt nam. Thật là một tin mừng rất lớn, vì vào thời đó, không khí chính trị ở Sàigòn đã bắt đầu ngột ngạt, và tôi cảm thấy đường học vấn bị cản trở, không được tự do. Được du học tại Sorbonne là một giấc mơ rất lớn, đến với tôi trong sự bất ngờ.

 

Tôi lên phi cơ trong niềm phấn khởi hân hoan. Trường mới, không khí tự do thoải mái, sách vở Thư Viện Quốc Gia và Thư viện Sorbonne đầy đủ, Giáo Sư nổi tiếng thế giới, cảnh sinh viên sinh hoạt cũng rộn ràng vui tươi tại Quartier Latin.

 

Trong 5 năm sống tại Paris, ngoài phần chuẩn bị Dự Án Tiến Sĩ Văn Chương Pháp, tôi còn thử thi tuyển vào một trường lớn của Pháp (Grandes Ecoles) mà tôi đã từng nghe danh tiếng lâu nay, đó là Viện Khoa Học Chính trị Paris, nơi đào tạo các công chức cao cấp và giới lãnh đạo công nghiệp doanh thương của Pháp. Tôi chú trọng về ngành Luật và Bang Giao Quốc Tế, với hy vọng sẽ làm cho Bộ Ngoại Giao sau này.

 

Với sự sung sướng tràn ngập, tôi được tuyển đậu vào Viện Khoa Học Chính Trị, và chọn ban Bang Giao và Luật Quốc Tế của Viện.

 

Sau 3 năm học tập, với những vị Giáo Sư danh tiếng đương thời như Thanh Tra Tài Chính Giscard D'Estaing (sau này làm Tổng Thống Pháp) dạy môn tài chính, Giáo Sư Raymond Barre (sau này làm Thủ Tướng Pháp) dạy môn Economie Internationale, và Le Comte Jean Jacques de Bresson (Cố Vấn Pháp Lý của Tổng Thống De Gaulle) dạy Droit Internationnal, vân vân, tôi đã tốt nghiệp Viện Chính Trị Paris vào năm 1964.

 

Tôi liền được tuyển vào làm Bộ Thông Tin dưới quyền Bộ Trưởng Alain Peyrefitte, với điều kiện là trong 2 năm, phải vào quốc tịch Pháp. Tôi rất ngần ngại, hoang mang về việc này, vì không muốn bỏ quốc tịch Việt Nam.

 

Nhân dịp tham dự một cuộc tiếp tân tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở Paris, tôi gặp vị Tham Vụ Báo Chí của Tòa Đại Sứ là ông Schneider. Sau khi chuyện vãn, ông mới hỏi tôi là người Việt Nam, sao lại làm cho chính phủ Pháp. Tôi thật tình nói rằng nay đã học xong, nhưng tình hình chính trị bên nhà bi quan quá, cứ đảo chính này đến đảo chính khác, nên tôi ngần ngại không muốn về lúc này. Ông có ý kiến, hay là tôi thử đi làm với người Mỹ, cho quen việc ứng xử với công việc làm của người Mỹ, mai sau về Việt nam hợp tác với người Mỹ thuận lợi hơn. Tôi nhận đề nghị của ông, và bắt đầu làm việc tại Trung tâm Văn Hóa Mỹ ở Paris.

 

Vài tháng sau, có cuộc thi tuyển làm Phóng viên đặc biệt của cơ quan Thông Tin Mỹ tại Paris. Tôi dự thi và được tuyển, vì tiếng Anh, dù lúc sau này không dạy, và chỉ lo học văn chương Pháp, tôi vẫn còn nắm rất vững. Làm chỉ được 6 tháng, tôi lại được Cơ Quan Thông Tin Hoa Kỳ (USIA) tuyển dụng đưa sang Washington làm việc.

 

Đó là vào năm 1965. tôi được đưa vào Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, đặc trách phần Bình Luận Chính trị.

 

Rồi đến năm 1975 đã đến, với nhiều bất trắc xảy ra cho Miền Nam. Tôi gần như bị cô lập, xa rời Tổ Quốc thân yêu. Tôi chỉ còn niềm an ủi là vẫn được dùng Tiếng Việt dễ nói chuyện với thính giả bên nhà hằng ngày, biết rằng thính giả rất mong tin bên ngoài cho biết về tình hình Việt Nam và thế giới. Sau này, có những tù nhân cải tạo cho biết đã nhờ gia đình theo dõi những bài tường thuật của tôi trên Đài VOA, dưới bút hiệu Trần Quân. Họ đã quen tôi, qua giọng nói, lời bình luận, qua bút hiệu Trần Quân.

 

Một đóng góp đáng kể của tôi là trong vòng 3 năm, lúc có cuộc đàm phán giữa Thứ Trưởng Ngoại giao Funseth và nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam cho phép các tù nhân cải tạo được ra đi đến Hoa Kỳ định cư, để đổi chác lấy một vài quyền lợi cho Cộng Sản, tôi đã thường xuyên hướng những bài tường thuật, phỏng vấn về quê nhà, để tù nhân cải tạo và gia đình vững tâm mong đợi. Sau cùng đã có kết quả thuận lợi, mở đường cho các cựu tù nhân ra đi làm lại cuộc đời.

 

Từ đó đến sau này, không lúc nào tôi bỏ lơi việc học thêm. Có thì giờ, tôi ghi danh vào Ban Cao Học về Ngôn Ngữ của Đại Học Georgetown, để trau dồi thêm tiếng Anh. Và sau cùng, vì thấy môn Luật là một môn khá thịnh hành ở Hoa Kỳ, nhiều ngành cần đến, và lợi tức cũng cao, nên tôi đã thi tuyển vào ban học tối, học 4 năm thay vì là 3 năm, sau khi đi làm ban ngày về.

 

Tôi đậu Tiến Sĩ Luật (Juris Doctor), và thi đậu vào Luật Sư Đoàn Tòa Thượng Thẩm Thủ Đô Washington. Tôi hành nghề Luật Sư song song với việc làm cho Đài Tiếng Nói Hoa kỳ, cho đến hết hạn kỳ 32 năm, tôi mới hồi hưu ở Đài VOA, và chỉ hành nghề Luật thôi.

 

Bắt đầu từ năm 1996, tôi bắt đầu hợp tác, Cố Vấn Pháp Lý cho một công ty tạo tác Mỹ, xây dựng cầu đường và hạ tầng kiến trúc, cao ốc cho Trung Quốc, Singapor và cũng có dự kiến muốn vào Việt Nam. Tôi có dịp đi Á Châu, mỗi lần, tôi đều để thì giờ ghé thăm Việt Nam vài tuần.

 

Năm 1996 là lần đầu tôi về Việt Nam, 36 năm sau khi đi du học và lập nghiệp nơi xứ người. Nỗi đau đớn nhất trong đời, là tôi thấy quê hương nhỏ bé của tôi, tỉnh lỵ Biên Hòa, làng Bình Trước, đã thay hình đổi dạng. Cảnh cũ không còn nữa, mà người xưa nay đã vắng bóng. Những bà dì, ông cậu của tôi, những người thân thương đã quá vãng. Số đông là những người mới ở miền Trung, miền Bắc vào cư ngụ, tạo nên một không khí hỗn độn, xô bồ. Biên Hòa nay chỉ là một vùng phụ cận của Sàigòn, xây cất nhà cửa hỗn độn, nhà giầu mới, các cán bộ, cất lầu sơn xanh, sơn đỏ chóa mắt, người nghèo thì sống chui rúc trong những con hẻm tồi tàn. Những gia đình cố cựu ở Biên Hòa nay không còn nữa, từ ông Đốc Vĩnh, Thầy Ba Hiệp, Thầy Ba Tri, ông Đốc Chức, ông Thanh Tra Nga, Thầy Hai Lụa, ông Đốc Tam, và 3 người Thầy thân thương đồng nghiệp của tôi, đã ra đi vĩnh viễn.

 

Mỗi lần về Biên Hòa, tôi chỉ còn thăm anh bạn cố cựu Phạm Kim Lân, nay cũng còn sống với nghề dạy học và tóc đã bạc trắng rồi. Mỗi lần tôi đều nhờ em Trương Minh Sang, học lớp Đệ Thất của tôi, liên lạc với các em học sinh đầu tiên của tôi ở lớp Đệ Thất, và Đệ Lục Ngô Quyền, cùng hội họp, ăn uống tại nhà tôi, hay tại nhà hàng Quyết Thắng, hay Tam Hiệp (nay đã trở thành nhà hàng quốc doanh!)

Nhìn đa số các em, nay đều đã 64, 65 tuổi (chỉ thua tôi 5, 6 tuồi, vì lúc đi dạy, tôi còn rất trẻ) đầu bạc, sún răng, da ngăm đen, thân thể gầy còm, mà lòng tôi thấy buồn vô tận. Vào năm rồi, một học sinh giỏi của tôi, em Trần Thị Đức, có cho tôi biết em bị ung thư nặng, đến giai đoạn chót. Tôi còn dịp liên lạc với em bằng điện thoại, hàng ngày, trong 4 tháng cuối cùng, trước khi em mất. Đau đớn thay!

 

Một cuộc biển dâu, đổi đời, tang thương đã diễn ra quá nỗi bi đát. Biên Hòa còn đó, mà lòng Biên Hòa đã mất tự bao giờ. Nay tuổi đời đã cao, nghĩ đến thời son trẻ, mà ngậm ngùi tiếc nuối quá khứ. Công đã tạm thành, danh đã tạm toại, nhưng tâm hồn tôi vẫn ngậm ngùi nhớ tiếc những phút giây hạnh phúc đầu tiên, đã qua mất rồi.

 

 

 

21 Tháng Sáu 2018(Xem: 19)
Kinh hoàng thâm độc âm mưu. Thương dân, thương đến thiên thu nước nhà Nỗi lòng dân Việt phương xa. Ơn trên xin giúp sơn hà Việt Nam.
21 Tháng Sáu 2018(Xem: 23)
“Kỳ Viên”, khu đất rộng mênh mông, Thanh tịnh, an vui, như cõi Non Bồng. PHẬT đến nơi đây, 24 mùa lá rụng, 24 mùa thay lá, Độ chúng sanh.
08 Tháng Sáu 2018(Xem: 266)
Cho tôi giữ những nụ hồng tươi sáng Của mùa Xuân nẩy lộc để ươm chồi Trong ước mơ và hy vọng lên ngôi Chào tháng sáu, niềm vui trong mong đợi.
08 Tháng Sáu 2018(Xem: 347)
Ráng chiều nhượm đỏ LÂM TỲ NI, Từ giã mà lòng luôn khắc ghi. Đất PHẬT, một lần mình đã đến, Để về, lòng mãi luôn bận suy.
30 Tháng Năm 2018(Xem: 397)
Cảnh nghèo đâu đâu... cũng giống nhau! Cũng xơ xác, cũng những niềm đau! Cũng cùng quần quật, qua năm tháng Chén cơm, manh áo... đủ không nào?!
25 Tháng Năm 2018(Xem: 391)
70 năm, kiếp má hồng Người xưa khuất núi, hết mong tương phùng Nắng chiều mờ nhạt mông lung Tóc pha màu muối, tình chung một đời.
25 Tháng Năm 2018(Xem: 369)
Bóng chiều đã ngả, cuối trời xa, Đêm ru thật êm, ánh trăng ngà. Tắm mát lòng người, về đất Phật, Quên nỗi nhọc nhằn, những ngày qua.
24 Tháng Năm 2018(Xem: 277)
Tôi vẫn nghe, lòng muốn say Lời yêu chưa nói đã chia tay Chiều nay nhớ quá người em nhỏ Chỉ thấy sân trường cánh phượng bay
19 Tháng Năm 2018(Xem: 429)
.... lòng nhân đạo và tri ân của con người. Thật là đáng quý. Cuộc sống vẫn rất đẹp nếu ta biết mở rộng tâm hồn để nhìn về mọi phía với sự lạc quan.
19 Tháng Năm 2018(Xem: 357)
Cảm ơn thi sĩ về Ánh sáng Ngôn ngữ một lần trong “xứ sở chiêm bao”, qua đó con đường cổ tích đi đến xứ chiêm bao ấy được khơi mở ra cho những ai có tâm và có sự chuẩn bị trước để bước vào.
18 Tháng Năm 2018(Xem: 433)
Rời cung điện, trăng cũng vừa lên, Chuyện xưa còn đó, nhớ hay quên? Một ngày đông vui, rồi tan biến?! Để dòng sông kia, mãi buồn tênh.
13 Tháng Năm 2018(Xem: 411)
"Lễ Mẹ" tháng năm đã về rồi Con buồn nhớ Má lệ thầm rơi Ví dầu con có bao nhiêu tuổi. "Mồ côi" con má vẫn ngậm ngùi.
11 Tháng Năm 2018(Xem: 421)
Nào ai biết ai... đang nguyện gì? Đăm chiêu, trầm lặng... Đấng Vô Vi. Mong được an lành, Phước lộc cả, Thế giới hoà bình, mọi nhà an vui.
04 Tháng Năm 2018(Xem: 511)
Hương linh mẹ có về chứng giám Mỗi tháng Tư tang trắng Việt Nam Con quỳ, bàng bạc khói nhang Cúng cơm cho mẹ, cúng ngàn sanh linh.
03 Tháng Năm 2018(Xem: 488)
Hồn đi... Hoa trôi... sẽ về đâu?! Chìm trong bóng đêm, chắc u sầu! TRO, cũng không còn lơ lửng nữa, Nửa mảnh trăng gầy, chìm đáy sâu!
28 Tháng Tư 2018(Xem: 553)
Gửi đến em một chút tình riêng lẻ Những người con nước Việt dã xa quê Cô Gái Việt Nam vẫn ước muốn quay về Tô điểm lại bức tranh quê giờ tan nát.
28 Tháng Tư 2018(Xem: 541)
Tàu rít xa... đêm buồn trăn trở, Nghe côn trùng... rời rã tâm can! Đêm K3, đẫm ướt lệ từng hàng! Ngàn giấc mộng, đang mơ về một hướng . Tháng tư buồn, nhớ về K3 càng buồn hơn!
21 Tháng Tư 2018(Xem: 553)
Rưng rưng, nước mắt lưng tròng. Hương trầm em đốt, thinh không anh về Chứng cho phu phụ trọn thề, Hương linh siêu thoát. đường về Tây Phương.
21 Tháng Tư 2018(Xem: 543)
THẦY GHÉ BẾN, thả thuyền theo dòng chảy, Mặc nhân gian: cay đắng, ưu phiền, Đã hết rồi, tục lụy nhân duyên, Cõi Vĩnh Hằng kính chúc Thầy vui miền Cực Lạc.
15 Tháng Tư 2018(Xem: 713)
*Xin bấm vào phần Youtube bên dưới để thưởng thức: Họp mặt đón Mùa Hoa Anh Đào--Tư gia chị Hillary Hạnh Dzương (4/7/18) Kiều Oanh thực hiện youtube
15 Tháng Tư 2018(Xem: 598)
Xin bấm vào phần Youtube bên dưới để thưởng thức: THÁNG TƯ NẮNG - Thơ Tưởng Dung, Nhạc Phạm Chinh Đông- Hòa Âm: Đỗ Hải – Ca sĩ : Thúy An
14 Tháng Tư 2018(Xem: 626)
Một viễn ảnh rất gần và kinh khủng. Khiến người có tâm, thao thức, đắng lòng. Tháng tư về. Núi cao, biển cả mênh mông Có hồn thiêng sông núi. Xin soi đường dẫn lối.
28 Tháng Ba 2018(Xem: 549)
Em sẽ vào quán, gọi món sushi anh thích. Một tô udon thêm một tách trà xanh, Để thấy anh cười, trong mỗi muỗng canh Và ấm áp thấy rằng mình hạnh phúc.
24 Tháng Ba 2018(Xem: 562)
Hoa bán mọi nơi trong ngày nhà giáo. Có bông hoa nào bằng tất cả tấm lòng. Trân trọng, tri ân Kính dâng lên thầy cô mình không? Hỡi những người học trò. Mầm non đất nước.
24 Tháng Ba 2018(Xem: 568)
Một chuỗi dài... như mới đây thôi, Hãy gắng mà vui, tiếc chi đời. Cuộc sống vô thường, rồi tan biến, Cầm bằng như: gió thoảng, mây trôi.
15 Tháng Ba 2018(Xem: 557)
VIÊN QUANG mờ xa... thấy nữa đâu? Chênh chếch đầu non, mảnh trăng sầu! Chỉ thấy bụi trần, chen nắng, gió, Dòng đời mòn mõi... mãi chìm sâu!
11 Tháng Ba 2018(Xem: 715)
Tôi xin trân trọng tri ân, Tôi xin cố gắng giữ gìn sức khỏe của mình để được vui với gia đình và bạn bè dài lâu. Tôi sẽ sống tốt hơn để xứng đáng với tình yêu thương ấy.
11 Tháng Ba 2018(Xem: 1141)
Tám tháng ba vừa đến. Những món quà muôn phương. Tuy ảo nhưng dễ thương. Bạn bè cùng chúc tụng. Xin cám ơn nhiều lắm. Cuộc đời này thật vui. Sẽ giữ mãi nụ cười. Đón mừng ngày sinh nhật.