Danh mục
Số lượt truy cập
5,129,390

MGTT 26 - THẦY THÂN TRỌNG HƯNG

30 Tháng Chín 201212:00 SA(Xem: 16992)
MGTT 26 - THẦY THÂN TRỌNG HƯNG

MGTT 26 - THẦY THÂN TRỌNG HƯNG


thay_than_trong_hung-large-content
Thầy Thân Trọng Hưng (2011)


Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Saigon khóa 1, ông thầy trẻ Thân Trọng Hưng bắt đầu sự nghiệp của nhà mô phạm với lớp Đệ Tứ (lớp 9) niên khóa 1959-1960 ở trường Trung học Ngô Quyền.

Ròng rã cả 12 năm sau, nhiều lớp học trò qua con sông Trung học, vào đời, ngược xuôi theo nợ áo cơm, trôi theo dòng sống nhấp nhô trầm bỗng ...

Hè năm 2012, bầy học trò xưa tứ tán bốn phương trời, -tóc đã ít nhiều nhuốm màu phấn trắng, trí óc đã xanh rêu nhưng kỷ niệm học trò vẫn còn đó chưa nhạt nhòa theo năm tháng- nghe tin Thầy Thân Trọng Hưng đang bệnh nặng ở quê nhà. Nhớ đến Thầy, anh Đào Văn Công đang ở Kentucky, thay mặt cho các "trưởng tràng", kể lại cho đàn em nghe những kỷ niệm chung học trò của lớp tứ 3 niên khóa (1959-1960) và của riêng anh với Thầy dạy Quốc văn hơn nửa thế kỷ trước. Từ California, chị Võ Thị Ngọc Dung kể lại những dấu ấn của "Kẻ Sĩ" mà Thầy Hưng đã thay mặt cụ Nguyễn Công Trứ để lại trong lòng các học sinh lớp 11B1 (niên khóa 1971-1972). Chị Nguyễn Thị Minh Thủy góp phần "mời người lên xe tìm vế quá khứ" bằng hình ảnh Thầy Hưng và các nữ sinh NQ mắt sáng môi tươi năm xưa.

Kính mời quý Thầy Cô cùng tất cả các chs NQ cùng "đốt lò hương cũ so tơ phím này" với NQ khóa 1 và khóa 11. Và xin cùng góp lời cầu nguyện cho sức khỏe của Thầy Thân Trọng Hưng.

Nguyễn Trần Diệu Hương


 

anh_dvcong-content

Anh Đào Văn Công


Đọc tin Thầy Thân Trọng Hưng lâm trọng bịnh, bàng hoàng như không tin vào đôi mắt đeo kính của mình. Bản tin cho biết, Thầy gần như hôn mê sau ba lần tai biến não và thêm bệnh viêm gan siêu vi B từ mươi năm trước.

 Chúng tôi gọi ngay cho đứa em ở Việt Nam, cho địa chỉ và điện thoại bảo đi thăm Thầy càng sớm càng tốt. Chúng tôi cũng liên lạc điện thoại được với gia đình Thầy, Cô cho biết gần đúng như bản tin đã được Diệp Hoàng Mai phổ biến trên trang nhà Ngô Quyền. Chúng tôi cũng email cho vài người bạn là học trò của Thầy.

 Thầy Thân Trọng Hưng dạy Quốc văn chúng tôi năm lớp đệ tứ 1959-1960. Thầy là người Huế, nhưng âm Huế của Thầy cũng không khó nghe cho chúng tôi lắm. Hai năm trước, ở đệ lục và đệ ngũ chúng tôi tiếp nhận âm Bắc, bây giờ có âm Huế cho đủ bộ Bắc Trung Nam.

Quốc văn của những năm Trung học, chúng tôi được học Kim văn và Cổ văn. Để giảng cho chúng tôi, âm Huế của Thầy chỉ trầm, không nặng, học trò miền Nam chúng tôi nghe hơi lạ chút thôi, không bị khó hiểu. Thầy viết lên bảng câu văn mà người Huế học để nói giọng Nam: “thằng hai nó chại dề dà ông dà dợ nó" và nói là Thầy phải đọc như vậy thuờng xuyên mỗi ngày để có được giọng nói cho học trò miền Nam hiểu được. Có đúng vậy không thì không biết chứ câu nầy trở thành câu nói cho “tụi thứ ba'' mỗi khi muốn xã hơi: “Thầy ơi, cho thằng hai nó chại dề dà ông dà dợ chút đi Thầy".

 Giảng về Cổ văn là món ruột của Thầy, nào tứ thư, ngũ kinh, tràng giang đại hải, chữ nho Thầy viết đầy bảng, nào “đại học chi đạ, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện. Tri chi nhi hậu hữu định, định nhi hậu năng tỉnh, tỉnh nhi hậu năng an, an nhi hậu năng, lự nhi hậu năng đắc. Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy, tri sở tiên hậu, tắc cận đạo hỉ.…”. Rồi thì nào là “Tiên trị kỳ quốc, dục trị kỳ quốc dả, tiên tề kỳ gia, dục tề kỳ gia dả, tiên tu kỳ thân, dục tu kỳ thân dả, tiên chính kỳ tâm, dục chính kỳ tâm dả, tiên thành kỳ ý, dục thành kỳ ý dả, tiên trí kỳ tri, trí tri tại cách vật. . .". Rất may, ngày đó, lúc còn học Tiểu học ở trường Nguyễn Du, lớp nhì, lớp nhứt và tiếp liên, một số chúng tôi, mỗi tuần có học một giờ chữ nho, thì còn hiểu chút ít, chỉ tội nghiệp các bạn lúc trước học tiểu học ở các trường khác, không có nửa chữ nho lận lưng, cứ ngồi thừ người ngơ ngác nhìn Thầy!

 Nhìn đám học trò cứ như từ cung trăng mới xuống, Thầy bảo: “Thôi, cứ nhớ ít thôi, bốn chữ là đủ, Tu Tề Trị Bình, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ . Eo ôi! Thầy dạy học trò đệ tứ nuôi mộng lớn “ trị quốc, bình thiên hạ''. Ít lâu sau, bọn chúng tôi không thấy Thầy viết chữ nho nữa, một trong số chúng tôi “phá'' Thầy bằng cách trước giờ học của Thầy, viết lên bảng một chữ “hưng” dưới dạng chữ nho. Khi Thầy vào lớp, nhìn thấy, Thầy bảo anh nào lên xóa bảng đi chúng ta viết chữ quốc ngữ thôi.

 Tết năm Canh Tý 1960, Thầy ghi địa chỉ nhà, đường Nguyễn Hoàng Saigon, bảo anh nào có đi Saigon qua nhà Thầy chơi. Chúng tôi, hai chú xã xệ, mùng 3 tết đáp xe đò Liên Hiệp tới thủ đô viếng Thầy. Lò mò rồi cũng tới được, nhưng Thầy đã đi vắng. Bà (thân mẫu của Thầy) phải hai lần châm trà với rất nhiều bánh mứt, không cho chúng tôi đi khi chưa gặp được Thầy. Hai giờ đồng hồ sau, Thầy mới về và đền bù chúng tôi bằng một bữa chè cháo, sau đó trên chiếc xe Huê kỳ rất sang trọng, Thầy đưa chúng tôi ra bến xe về lại Biên Hòa.

 Thầy Thân trọng Hưng dạy chúng tôi duy nhất năm đệ tứ, nhưng chúng tôi vẫn thỉnh thoảng gặp Thầy ở sân trường và luôn luôn Thầy vẫn nhớ tên từng đứa học trò. Cứ như “tình đầu khó quên'' vậy.

 Chỉ vài ba năm, đám học trò, tất cả trước sau lần lượt rời trường cuốn hút vào chiến tranh, chúng tôi, với nhiệm vụ mới, lặn lội khắp chiến trường, rồi chiến tranh chấm dứt bằng trại cải tạo, để chúng tôi biết thêm vài địa danh miền Bắc mà không một lần trở lại trường xưa.

 Trở về từ tội danh “ngụy quân'' của nhà tù nhỏ, chúng tôi lại bươn chải với cuộc sống một phó thường dân cho đến cái ngày “sau cơn mưa''. Cuối năm 1994, mấy ngày trước khi lên đường qua Mỹ, chúng tôi đến thăm Thầy nơi căn nhà bên hông trường Ngô Quyền. Ba mươi bốn năm sau, vừa gặp mặt, Thầy đã gọi đúng tên kèm lời thăm hỏi thân thương “gầy và đen quá''. Chúng tôi vui vẻ: “Dạ thưa Thầy, tại vì ĐEN quá nên gầy''. Chúng tôi phải lấy lý do thu xếp nhiều việc trước khi đi, để từ chối bữa cơm mà Thầy nhất quyết là để tiễn đưa dù không biết trước.

 Mười tám năm, kể từ lần gặp đó, thời gian qua thật mau, một ngày đọc được tin Thầy, nhớ lại mình cũng xấp xỉ bảy mươi, chuyện thời đi học như mới hôm qua. Thầy Thân Trọng Hưng của chúng tôi với chữ nho, với xe Huê-kỳ và âm thanh Huế thật trầm, thật nhẹ.

 

 Đào Văn Công 

 (Xóm ngựa tháng 9/2012)

 


Thầy Thân Trọng Hưng và lớp 11B1 (niên khóa 71-72)

 

thay_than_trong_hung-large

Từ trái: Lâm Diễm, Thầy Thân Trọng Hưng, Minh Thủy, Ngọc Dung (1971)

(Ảnh do Minh Thủy lưu giữ) 


Trước đó, không nhớ rõ là tôi và các bạn cùng lớp đã đến thăm Thầy Thân Trọng Hưng vào lúc nào, nhưng nhìn những tấm hình cũ chụp ở nhà Thầy tôi nhớ ngay đến căn nhà rất đẹp nằm phía sau trường Ngô Quyền, có vườn cây mát rượi, xum xuê mà chúng tôi đã tranh nhau lấy ''phông'' để chụp ảnh. Bây giờ, nghe Minh Thủy nhắc và gửi thêm tấm hình chụp với Thầy lúc đó, tôi mới nhớ ra là Thầy còn có một tiệm in ronéo ngay tại nhà mà tôi và Minh Thủy đã đến để in tập thơ thứ nhì của chúng tôi là tập "Thơ 16'' vào năm 1971.

Không ngờ năm sau, Thầy Thân Trọng Hưng lại dạy Quốc Văn cho lớp 11B1 chúng tôi (niên khóa 71-72), Thầy đến lớp chúng tôi như một làn gió lạ, với dáng người nhỏ nhắn, trang phục giản dị, xuề xòa, và giọng Huế đặc biệt không quá chuẩn nặng, thầy dạy bằng một thái độ rất tự tin, bình thản, lối giảng bài từ tốn nhưng lại hay ví von, tếu tếu mà vẫn giữ nét mặt... tỉnh bơ nên lớp học gồm nửa trai, nửa gái của chúng tôi trong những giờ Giảng Văn của Thầy thường thì im ắng, thỉnh thoảng mới có những tiếng cười rúc rích, những gương mặt đỏ au khi Thầy bắt đầu diễn tả bài giảng với những động tác thật cụ thể hoặc cao giọng so sánh những hình ảnh thơ mộng trong thơ văn và thực tế... phũ phàng. Như để chứng minh cho điều này, trong một giờ Văn Học Sử khi nói về các tác giả trong giòng văn học lãng mạn, Thầy thản nhiên bày tỏ ý kiến: "Làm thơ, viết văn thường ai cũng cường điệu cho dữ lên, nhưng thực tế thì rất... phũ phàng. Bài thơ nào cũng ca tụng "nụ hôn'' nào là ngọt ngào, thơm tho, mật ngọt... tôi thấy chả có thơm tho tí nào cả, toàn là nước miếng, hôi rình... đây nè..." Vừa nói Thầy vừa đưa tay lên môi, quẹt mấy cái rồi giơ ra trước mặt. Chao ôi! hình ảnh thơ mộng, đưa hồn người lơ lửng trên mây trong bài thơ "Nụ hôn đầu'' của Trần Dạ Từ: "Lần đầu ta ghé môi hôn. Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang. Vườn xanh cỏ biếc trưa vàng. Nghìn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông"... bỗng dưng trở thành... chuyện cổ tich, huyền thoại, không có trên trần gian. Chúng tôi vừa tức cười vừa... tức tối vì mắc cở và thất vọng. Không biết các bạn trai lúc đó nghĩ thế nào chứ bọn con gái chúng tôi thì len lét nhìn nhau, hoặc cúi gầm nhìn xuống mặt bàn, miệng cười méo mó. Thầy Hưng là thế, với đôi mắt lúc nào cũng trông như buồn ngủ nhưng lại có tài đánh thức học trò với những câu khôi hài, châm biếm rất độc đáo.

Năm lớp 11 của chúng tôi là năm cuối cùng Bộ Giáo Dục còn bắt thi Tú Tài 1 nên đám sĩ tử, đặc biệt là nam sinh phải đối diện với 2 thử thách lớn: thi Tú Tài và lệnh Tổng Động Viên hứa hẹn nhiều sôi động trong mùa hè đỏ lửa 1972 trước mắt. Nên tất cả mọi nổ lực đều tập trung vào việc học hành, thi cử.

Các Thầy Cô từ đầu năm đã luôn nhắc nhở, dặn dò chúng tôi là phải cố gắng học hành cho đàng hoàng và dạy chúng tôi những bài vở "tủ" theo kinh nghiệm của từng người. Với hệ số 3, môn Quốc Văn luôn chiếm vị trí quan trọng trong điểm số các bài thi. Năm đó, Thầy Hưng giảng thật kỹ và nhất định bắt chúng tôi học cho thuộc bài "Kẻ Sĩ" của Nguyễn Công Trứ vì Thầy tin rằng đề thi quốc văn sẽ có 1 bài nghị luận về "Kẻ Sĩ".

Để cho chắc chắn, Thầy chỉ mọi cách cho chúng tôi thuộc nằm lòng bài thơ. Trước tiên, Thầy dặn chúng tôi tìm mua một vài tờ giấy cứng về cắt ra thành những tấm thẻ nhỏ cùng cỡ (như hình thức Flash card bây giờ) rồi viết chữ đầu của mỗi câu trên đó cho đến hết bài.

Ví dụ: Tước hữu...

 Dân hữu...

 Có giang sơn...

 Từ Chu Hán...

 .....

và phải luôn bỏ trong túi như "bửu bối'' để bất cứ lúc nào cũng có thể lấy ra để... dò. ''Đứng đợi xe, chờ lấy đồ ăn, ngay cả ngồi trong... cầu tiêu nữa (!!!) cứ phải nhẩm đọc, có quên thì móc túi ra coi thấy chữ đầu câu là mình nhớ ngay nguyên câu rồi. Học vậy mới mau thuộc bài.".

Thêm nữa, Thầy còn dặn anh trưởng lớp mang theo một cây thước kẻ khá to cứ mỗi lần vào giờ Thầy, khi nghe nhịp thước gõ trên bàn hoặc thấy thầy giơ tay lên làm ''hiệu lệnh'' là cả lớp bắt đầu ngân nga đọc: "Tước... hữu... ngũ, sĩ... cư... kỳ... liệt. Dân... hữu... tứ... sĩ... vi... chi... tiên..." Lúc đầu, chúng tôi vừa tức cười, vừa mắc cở gì mà cứ như là học sinh lớp tiểu học. Nhưng vài lần sau thì đọc oang oang, hăng hái và thuộc cả bài lúc nào không hay. Mãi đến giờ không chừng lớp tôi cũng còn nhiều bạn vẫn thuộc nằm lòng bài ''Kẻ Sĩ'' của Nguyễn Công Trứ đấy chứ.

Và quả thật hè năm đó, trong hai đề thi quốc văn phải chọn một có đề "Hãy phân tích hình ảnh Kẻ Sĩ trong thơ Nguyễn Công Trứ'', tôi đã không buồn đọc đến đề thứ hai xem là gì, cắm cúi viết một mạch, nhìn sang các bạn cùng lớp trong phòng thi của tôi đứa nào cũng mặt mày hớn hở và đang say sưa múa bút.

Sau cuộc thi, chúng tôi gặp lại, cám ơn Thầy tận tình dạy dỗ nên cả lớp đã "trúng tủ'' và thi đậu gần hết lớp. Thầy cười với đôi mắt... lim dim: "Thấy chưa, tao đoán đâu trúng đó mà".

Thoắt đó mà đã 40 năm... Kỷ niệm xưa nhắc lại vẫn còn như mới hôm qua, dù Thầy trò giờ đã ''tóc đã bạc như nhau'', đã nghìn trùng xa cách, hoặc kẻ còn người mất.

Nghe tin Thầy đang bệnh nặng, xin cầu nguyện cho Thầy sớm vượt qua những đau đớn, bệnh tật của thể xác và tâm hồn luôn đươc bình an. Chúng con vẫn mong có một ngày Thầy trò còn dịp gặp nhau ngồi nhắc lại chuyện ngày xưa dưới mái trường cũ Ngô Quyền.


Võ Thị Ngọc Dung (ChsNQ Khóa 11)

Tháng 10, 2012

 

 

20 Tháng Mười Một 2018(Xem: 1715)
Sau cùng, xin tạ ơn đời đã cho chúng ta đươc một thời hãnh diện mang phù hiệu Ngô Quyền trên ngực áo, và cơ duyên hạnh ngộ trong những lần họp mặt chs Ngô Quyền.
08 Tháng Tư 2018(Xem: 4080)
MGTT 46 là nén hương lòng thành kính của lớp 7/1 K15 viếng GS hướng dẫn Bạch Thị Bê (1938-2018)
18 Tháng Mười Một 2017(Xem: 6345)
Thầy Cô mang theo mình lời “Lương Sư Hưng Quốc” Trò cũng đau đáu trong lòng câu “Nhất Tự Vi Sư”
24 Tháng Mười Một 2016(Xem: 7624)
Nhân lễ Tạ ơn 2016 ở Mỹ, xin được một lần nữa, tri ân quý Thầy Cô đã khai tâm cho chúng ta, đã ít nhiều góp phần cho ta có được ngày hôm nay.
24 Tháng Mười Một 2015(Xem: 19161)
Xin tạ ơn đời đã cho tất cả chúng ta có duyên hạnh ngộ ở ngôi trường Trung học công lập Ngô Quyền ngày nào cạnh dòng sông Đồng Nai hiền hòa góp phần nuôi ta khôn lớn.
15 Tháng Tám 2015(Xem: 14622)
Bên cạnh thiên chức của một nhà mô phạm, Thầy Nguyễn Viết Long của cuối thập niên 60, đầu thập niên 70 còn thắp sáng niềm tin cho học trò với nhiệt tình của một nhà giáo trẻ.
17 Tháng Giêng 2015(Xem: 56209)
cuối cùng chúng tôi được "gặp" lại Thầy Dương Thanh Tùng, giáo sư Sử ngày xưa ở Ngô Quyền sau gần 40 năm.
20 Tháng Mười Một 2014(Xem: 21021)
Xin cảm ơn đời sống và những tình cờ đã cho chúng ta biết, quý mến nhau dưới mái trường Ngô Quyền yêu dấu ngày xưa. Hạnh ngộ đó đã trải dài theo bước chân lưu lạc của Thầy trò NQ ở khắp thế giới ...
22 Tháng Năm 2014(Xem: 7283)
Xin được mượn lời giới thiệu của nhà xuất bản Tam Vĩnh ở Luân Đôn giới thiệu về tác phẩm "Bóng ngày vui" để mở đầu cho MGTT 39 về Thầy Kiều Vĩnh Phúc, nguyên giáo sư Anh văn của trường Ngô Quyền.
19 Tháng Mười Hai 2013(Xem: 13788)
Là cựu GS Vạn vật ở NQ xưa, ở tuổi ngoài 70, Thầy sáng tác nhiều bài thơ với tình bạn ấm áp và tình thầy trò ngọt ngào như những cái bánh kem Thầy vẫn tặng thầy trò NQ mỗi kỳ họp mặt.
06 Tháng Mười Hai 2013(Xem: 9794)
Là một trong ba huynh trưởng lớn của Hướng Đạo Việt Nam ở Biên Hòa trong thập niên 60s, Thầy Phạm Ngọc Quýnh mang tinh thần "sắp sẵn" của một hướng đạo sinh vào nghề gõ đầu trẻ ở Ngô Quyền.
26 Tháng Mười Một 2013(Xem: 12056)
Ở một góc sâu nhất của tâm hồn là lòng biết ơn, vẫn được thắp sáng mỗi năm. Dù đã rời trường lâu lâu lắm rồi , xin về lại MGTT để cùng nhớ đến quý Thầy Cô đã uốn nắn chúng ta không chỉ về kiến thức mà còn về đạo làm người
22 Tháng Mười Một 2013(Xem: 9604)
Anh Huỳnh Văn Huê- K8 xin được thay mặt cho Hội chs Ngô Quyền nhắc lại vài kỷ niệm thủa sinh tiền của Cố Giáo sư Việt Văn, Nguyễn Hữu Tiến xem như một nén hương lòng thành kính thắp lên để tưởng nhớ Thầy
01 Tháng Mười Một 2013(Xem: 12783)
Không phải chỉ ở trong khung cửa lớp của NQ yêu dấu ngày xưa, mà ngay cả bây giờ, nhiều anh chị đã nên ông nên bà (theo đủ mọi nghĩa) vẫn học được rất nhiều điều từ Thầy Nguyễn Thất Hiệp.
04 Tháng Mười 2013(Xem: 12072)
Với các anh chị K5 đến K10, Cô Trí là một cô giáo Việt văn tận tâm với học trò. Với tôi, qua Cô Trí tôi thấy hình ảnh Mẹ tôi, người luôn biết tôi cần gì và cần được nâng đỡ lúc nào.