Nhìn lại sử liệu viết về Nguyễn Huệ Quang Trung và Gia Long Nguyễn Ánh.
“Chúng ta nên tập giết các chủ thuyết trước tiên, thay vì giết nhau” ( Karl Copper)
Nguyễn Văn Lục
Bài viết này có thể nhằm mục đích trả lại sự thật cho lịch sử mà lý do căn bản là tôi đố kỵ với những quan điểm cực đoan, cái nhìn một phía dựa trên trục chính-tà.
Hay trong quan điểm Tây phương là cái ísme. Trục chính tà có thể giết chết sự thật.
Lấy trường hợp nhân vật Nguyễn Huệ Quang trung như một tỉ dụ điển hình.
Nhân vật Quang Trung-Nguyễn Huệ dưới mắt nhiều người đã bị huyền thoại hóa hay nói trắng là bị đầu độc bởi dư luận đến không còn biết đâu là sự thật. Thật đáng tiếc.
Hình như lịch sử dân tộc Việt nói cho cùng luôn luôn có những vết nhăn dựa trên trục chính-tà. Hoặc là anh hùng, hoặc là bạo chúa. Hoặc là quân tử, hoặc là tiểu nhân.
Theo cái tinh thần: “Được làm vua, thua làm giặc”.
Nhưng chúng ta cũng thừa hiểu rằng, rất có thể những vị trên một lẽ nào đó đã được thần thánh hóa như trường hợp “vua Lê với thần rùa”.
Thời gian sau, dưới mắt Tây Sơn, vua Lê chỉ còn là một tên bạo chúa, hại dân cần phải truy diệt.
Không lạ gì, có lần Tào Tháo cùng Lưu Bị ngồi bàn luận thời thế,Tào Tháo đã nhìn thẳng vào mặt Lưu Bị mà bảo” Anh hùng trong thiên hạ, nay chỉ có tôi với sứ quân.. Lưu Bị hoảng hốt vì Tào Tháo “ đi guốc vào trong bụng mình”.
Cho nên, người cầm bút cần can đảm lắm, cần cân nhắc, cần thông minh và không thể thiếu một tấm lòng đồng thời đòi hỏi sự dấn thân, nhập cuộc như ông R. Aron viết:, “ L’Historien digne de ce nom est toujours un spectateur engagé”.( (Một sử gia chân chính phải là một khán giả dấn thân nhập cuộc)
Nguyên tắc ấy giup dễ dàng đânh giá một ông vua đang trị vị như trường hợp vua Càn Long bên Tàu.
Trong lễ mừng Khánh Thọ 80 tuổi, ông đã tiêu tốn hết 1.100.000 lượng bạc. Trong khi đó dân chúng khốn khổ vì sự hoang phí vô độ ấy. Khi Càn Long chết thì Hòa Khôn bị bắt và tài sản của y trị giá 80 triệu lạng bạc.
Ông Nguyễn Duy Chính tỉ mỉ ngồi tính ra thời giá hiện nay là 1.5 tỉ đô la. Các vua tàu lại còn có thể có hàng 10.000 cung phi.
Và làm sao tránh khỏi cái cảnh họ coi ngai vàng của vua là dịnh mệnh của cả một dân tộc. Trong khi đó, mọi sinh hoạt đời sống của người dân như cái đèn cù xoay quanh vị vua với những thăng trầm, với những tranh quyền đoạt lợi của một dòng tộc.
Từ dòng tộc, nó trở thành lịch sử của cả một dân tộc.
Và chúng ta tự hỏi, không có những vị anh hùng đó, không có triều đại đó liệu chúng ta có còn lịch sử nữa hay không?
Cuối cùng lịch sử chỉ là lịch sử một triều đại như nhà Trần, nhà Lý, nhà Ngô, nhà Nguyễn và cứ thế mãi!!
Và đã có bao giờ có một thứ lịch sử của người dân bình thường không!!
Đó là những câu hỏi, những suy nghĩ làm tiền đề cho bài viết này.
Trong số những kẻ thao túng thời nay, tranh quyền đoạt lợi, trước hết và trên hết không ai khác hơn là cộng sản Hà Nội. Hà nội đích danh là phản ảnh cho sự tuyên truyền dối trá, xúi giục và bóp méo sự kiện lịch sử về thời kỳ Quang Trung, Nguyễn Huệ.
Mới đây, bạn bè có gửi cho tôi một bài viết của cố giào sư Trần Quốc Vượng nhan đề :
“Mấy vấn đề về vua Gia Long”.
Bài tham luận của Trần Quốc Vượng được viết cho một buổi Hội thảo tại TP Hồ Chí Minh vào năm 1996. Nhưng do liên quan đến quan điểm chính trị mà buổi hội thảo bị bãi bỏ và bài của gs Trần Quốc Vượng cũng chưa được đăng lần nào.
Theo gs Vượng, quan điểm sử học của Hà Nội là phủ định sạch trơn(table rase) về thời Nguyễn và nhà Nguyễn.
Quan điểm của Hà nội là nhà Nguyễn tượng trưng cho chế độ phong kiến bóc lột cần tiêu diệt. Còn Quang Trung Nguyễn Huệ là thành phần lớp nông dân bị bóc lột phải được đề cao và phải vùng lên.
Nó hé lộ cho thấy cuối cùng đây chỉ là một cuộc cách mạng “Tranh đấu giai cấp” theo ý thức hệ của cộng sản.
Nhiều người đã bị lừa rơi vào cái bãy của cộng sản đã giăng ra.
Bài viết của gs Vượng phù hợp với quan điểm của tôi là cần nhìn lại về Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh!!
Bài tham khảo của tôi có thể gây sốc và sẽ gây sốc, làm phiền lòng nhiều người vì đụng chạm đến những điều không được phép đụng chạm, nghĩa là đụng chạm đến niềm tin và quý mến đã có sẵn của họ.
Nhất là đụng chạm đến Nguyễn Huệ, Quang Trung.!!
Biết làm sao được!!!
- Đối với tôi, Lịch sử bao giờ cũng ở số nhiều.
Bởi vì có thứ lịch sử của kẻ cai trị, của kẻ cầm quyền, của những tên bạo chúa, của dong họ, của đảng phái như cộng sản và nhất là thứ sử của kẻ cầm bút mà đôi khi thực chất họ chỉ là bọn cung văn.
Trong các chế độc tài đảng trị bây gìờ th họ coi nhà sử học bị liệt vào hạng văn nô, giống “ chó dê”, “ giống nịnh hót. Người viết sử tự biến mình thành kẻ nịnh thần thay vì là phò minh quân?
Đó là tùy theo bối cảnh chính trị mà kẻ cầm bút gọi kẻ đối địch là “ giống cõng rắn cắn gà nhà “ để chỉ trường hợp vua Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh Gia Long. Nhưng lại không nhắc gì đến Quang Trung cũng sai con trai là Quang Toản sang “ chầu” Vua chúa bên Tàu.
Nguyễn Ánh- Gia Long từ nay bị xếp loại ngang hàng với trường hợp Hồ Quý Ly, Mặc Đăng Dung hay trường hợp các công thần nhưTôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường theo cái tinh thần:” được làm vua, thua làm giặc.”
Cùng một cách thức ấy, đã có lần, anh hùng Nguyễn Thái Học bị người Pháp nhận xét: “ Hắn có một bộ mặt lầm lì, trán gồ, nhiều vết ngấn, đôi mắt cú vọ, biểu tượng mẫu người cứng đầu và phạm thượng.”
Nhiều lúc tôi tự hỏi mình, có dòng nào, có vinh danh nào trước những lầm than, khốn khổ cửa người dân.
Chẳng hạn cũng vậy, có ai nghĩ rằng đằng sau cái vĩ đại của Vạn Lý Trường Thành, đã có hàng trăm ngàn người dân đã chết cho công việc xây dựng vĩ đại ấy?
Công trình càng lớn, càng hao tốn thì theo lũy tiến dân chúng càng lầm than, càng khốn khổ.
Phần người đọc sử riết rồi bị uốn nắn, bị điều kiện hóa, đồng hóa với quan điểm của người viết sử hoặc kẻ làm nên sử.
Người đọc như thế đã bị tha hóa như những con dê tế thần.
Cho nên, có lẽ theo tôi, cần có một cái nhìn thật sự nhân bản về sử học, bởi vì sử học trước hết là lịch sử về con người chứ không phải của kẻ cầm quyền, của vua chúa.
Trong khi đó, một mặt khác, lịch sử lại chỉ có thể xảy ra duy nhất một lần.
Phần còn lại của lịch sử được viết đi, viết lại nhiều lần tùy theo mỗi người và tùy theo mỗi thời kỳ.
Trong lịch sử Việt Nam có hai nhân vật lịch sử cách đây hơn 200 năm, người này người kia đã làm nên vận mệnh lịch sử Việt Nam là Tây Sơn Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh Gia Long.
Vóc dáng và sự nghiệp của họ đã được huyền thoại hóa, được vinh danh hoặc đã bị bôi nhọ và bị người đời nguyền rủa tùy theo ngòi bút của các người viết sử.
Vấn đề ở đây là có một thứ lịch sử của những nhân vật lịch sử hay là thứ lịch sử của những người viết sử?
Muốn nhìn lại chân diện những nhân vật lịch sử này quả thực không dễ. Một phần phải xóa đi những lớp bụi thời gian đã đóng rêu, đóng mốc đến mọc rễ trên họ. Một phần phải bỏ đi những định kiến đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi người như một thứ chân lý, như một sự thật hiển nhiên.
Đó là hai công việc đồng thời phải làm.
Chẳng những thế, còn phải xóa bỏ thần tượng trong sách vở, xóa bỏ những đám mây mù tài liệu và hơn tất cả, xóa bỏ thần tượng trong đầu mỗi người mà công việc ấy gần như thể là một công việc tẩy não.
Và nhiệm vụ của sử học không thể câu nệ chỉ căn cứ vào sự đồng tình ít hay nhiều của người đời rồi cứ thế trôi theo.
Bài viết này mong trả lại được công đạo cho sự thật và một cách gián tiếp giải trừ một số huyền thoại về Tây Sơn Nguyễn Huệ và trả lại công đạo cho Nguyễn Ánh dựa trên một số công trình của các nhà nghiên cứu chuyên ngành về sử.
Người viết cùng lắm chỉ làm công việc thông tin qua những kiến thức sử của các vị chuyên ngành viết sử.
1. Có sự chênh lệnh quá đáng về số lượng tài liệu viết về Tây Sơn
Người viết nhận thấy có một sự thuận lợi rõ ràng về số lượng tài liệu viết về Tây Sơn và sự bất lợi vì quá ít tài liệu viết về phía Nguyễn Ánh.
Số lượng chênh lệch về tài liệu có một ý nghĩa gì? Phải chăng những người viết sử chạy theo số đông như về hùa? Hay viết với những động cơ nhiều cảm tính?
Động cơ nào đã thúc đẩy họ viết như thế?
Có thể động cơ chính trị là chính yếu.
- Hiểu được những động cơ thúc đẩy họ viết là hiểu được một phần nửa sự thật. Chẳng hạn cộng sản Hà Nội trước đây đã hết lời ca tụng Tây Sơn chỉ nhằm lợi dụng Tây Sơn biện minh cho chiêu bài thôn tính miền Nam của họ.
Nhưng phía các nhà viết sử Việt Nam Cộng Hoà trước 1975 cũng phần đông bốc Tây Sơn thì do động cơ nào?
- Điển hình nhất là Tập san sử địa miền Nam mà tôi đã có dịp trình bày.
Mặt tích cực đóng góp của tập san này hẳn là có. Có khá nhiều và trổi bật so với miền Bắc về mặt tài liệu, về sự đóng góp của nhiều tác giả và quan trọng nhất là về mặt tài liệu.
Nhưng đằng sau nó là một số những “âm mưu che đậy, trá hình” nhân danh sự thật do Nguyễn Nhã chủ trương mà ít ai nhận ra.
- Về cá nhân Nguyễn Huệ Tây Sơn
Trong gia đình Nuyễn Huệ có ba anh em: Nguyễn Nhạc anh cả, đến Nguyễn Huệ và người em út là Nguyễn Lữ. Nhưng chỉ mình Nguyễn Huệ tỏ ra là tài tuấn hơn cả với tài dụng binh thần tốc, đánh đâu thắng đó, thu phục được nhiều tướng tài dưới trướng như Lê Văn Dũng Trần Quang Diệu và vợ là nữ tướng Bùi Thị Xuân.
Cách dụng người, cách dụng binh đã nhiều lần cho thấy đã truy đuổi Nguyễn Ánh đến đường cùng đến chỗ chỉ còn trơ chọi một mình. Nguyễn Ánh phải khốn khổ trốn trn ra nước ngoài bằng đường biển để sau này tìm cách khôi phục lại giang san sau.
Nhưng sau này, trong nội bộ nhà Tây Sơn có nhiều chia rẽ, cấu xé nhau đã bị Nguyễn Ánh bao vây và truy đuổi ở thành Quy Nhơn.. Nữ tướng Trần Thị Xuân đã bị Nguyễn Ánh bắt được và hành xử rất độc ác với bà.
Chúng ta cần nhớ rằng khi ca tụng Tây Sơn Nguyễn Huệ như Người anh hùng áo vải mà sự thật bên trong chúng ta quên rằng nó che đậy một tham vọng chính trị ngút trời:
Bản thân Nguyễn Huệ vốn xuất thân từ chỗ bần hàn, cơm rau, áo vải, học hành ít ỏi như thế mà dám tuyên bố” Vài ngàn dặm ở cõi Nam đều thuộc về ta hết.”
Tham vọng ngất trời của một chủ nghĩa cơ hội ấy, Nguyễn Huệ còn tìm cách biện minh cho việc làm của mình như: “ Vua Lê đã không giữ được nước thì các trấn từ Thanh Hóa trở ra.. Tây Sơn không lấy, người khác cũng lấy..”
Phải chăng đó là giấc mơ của người anh hùng áo vải đồng hóa với giấc mộng đế vương?
Vì thế, ngay cả chức Bắc bình Vương mà Nguyễn Nhạc phong cho em nhằm xoa dịu nỗi bất bình và tham vọng của em cũng không làm Nguyễn Huệ hài lòng để rồi đi đến cảnh anh em Tây Sơn trong cảnh “nồi da xáo thịt”, công khai mắng nhau là “ “sài lang, cẩu trệ” và còn biết bao nhiêu âm mưu thao túng giết người nọ người kia đẻ bảo vệ cái ngai vàng cho riêng mình.
Phần chúng ta dựa vào đâu mà kê cứu, tìm hiểu, cắt nghĩa? Không lẽ chỉ dựa vào những sử liệu đã được phong thần?
- Cho nên, dưới mắt tôi, lịch sử vẫn còn đó, sự việc vẫn còn đó. Vấn đề là tìm ra đâu là sự thật?
- Chúng ta hãy bắt đầu với trường hợp ông Nguyễn Nhã, chủ biên tập san sử địa.
- Trước hết, có một nhóm sinh viên sử địa đã quấy rối, gây ra một bạo loạn trong việc chống đối và phê phán ông khoa trưởng Nguyễn Văn Trung khiến nhà thơ Nguyên Sa phản đối bằng cách xin từ chức và đích thân linh mục Cao Văn Luận, viện trưởng viện đại học Huế phải đứng ra can thiệp và bênh vực gs Nguyễn Văn Trung..
Đến lượt ông Nguyễn Nhã, chủ biên Tập san sử địa đã bỏ công cài đặt những đề tài về Quang Trung trong ba số chủ đề.
Ông Nguyễn Nhã đã một cách nào đó mời một số cây viết nổi danh viết cho ba số đặc khảo về Quang Trung như sau:
- Chiến thắng Đống Đa. (số 13)
- Đặc khảo về Quang Trung. ( Số 9 và 10)
- 200 trăm năm Phong trào Tây Sơn ( số 21)
Triều đại Tây Sơn ngắn ngủi mà đều là những năm bận rộn với chinh chiến. Liệu Tây Sơn đã thực sự làm được gì?
Vậy mà người ta có thể ngồi “vẽ ra” triều đại Quang Trung: nào là về chính tri, nào là ngoại giao, nào là chính sách về tôn giáo, nào là về tiền tệ, v.v… và v.v…và ngay cả văn học thời Tây Sơn nữa.
Trong khi nhà Nguyễn phải mất 88 năm mới biên soạn xong bộ Đại Nam Thực Lục mà số người đọc được đếm trên đầu ngón tay! Vì những sách này lại rất khó đến tay người đọc vì phần đông dân chúng không biết chữ Hán.
Cho nên đối với phần đông dân chúng vì không được đọc chính sử nhà Nguyễn nên chỉ nghe nói về sử hơn là đọc sử.
Biết về Nguyễn Ánh phần đông chỉ là nghe lời đồn hơn là đọc sử. Đây là điều bất lợi không nhỏ cho Nguyễn Ánh Gia Long bị bao vây bởi một thứ sử dân gian, truyền miệng. Làm thế nào bịt miệng dân gian?
Tư liệu viết về Quang Trung đã nhiều lại viết một cách thiên lệch.
Hiện tượng tài liệu sử viết về Quang Trung lấn lướt tài liệu viết về Nguyễn Ánh là điều có thực. Có thể nó bắt đầu kể từ khi Trần Trọng Kim, một sử gia Việt Nam dưới thời chính phủ Bảo Đại viết bộ sử Việt Nam Sử lược với một cái nhìn mới về vua Quang Trung.
Nó đã mở đầu cho một trào lưu viết sử về Quang Trung với nhiều hào quang, với nhiều danh xưng tán tụng như “anh hùng áo vải, anh hùng dân tộc dựng cờ đào, Cách mạng nông dân Quang Trung Nguyễn Huệ như một Napoléon, như một nhà ngoại giao xuất sắc, như Nguyễn Huệ với chiến lược con người.
Nói không quá đáng là có sự hình thành một dòng Văn sử học viết về Tây Sơn.
Đồng ý phải nhìn nhận ở một mặt nào đó, đôi khi một dân tộc cũng cần được nuôi dưỡng bằng một số hào quang lịch sử như thế chấp cho sự tầm thường và kém cỏi của đời sống.
Sức quyến rũ về hình ảnh một Quang Trung anh hùng làm nức lòng mọi người, khơi dậy tình tự dân tộc phải chăng cũng là một điều cần và đủ?
Nhưng liệu nó có thể thay thế cho sự trung thực của sử học?
Duyên Anh đã có lần viết mơ được làm Người Quang Trung. Từ đó, nhiều giới trẻ trong Nam trước 1975 cũng mơ như thế!!
Tài liệu sử viết về Quang Trung nhiều đã đành. Cạnh đó, thơ văn, kịch nghệ, sân khấu, tiểu thuyết, sách giáo khoa, tên các địa danh, ngay cả các lễ hội đã dành một chỗ cao cho “người anh hùng áo vải”.
Phải chăng có một thứ sử học, văn học và văn hóa Quang Trung thấm đẫm tình tự dân tộc, đất nước, con người theo cái tinh thần chúng ta sống với thời đại của những người anh hùng?
Và cứ thế tiếp nối sau đó có cả hơn một ngàn tài liệu sách vở viết về Quang Trung. Cuốn sách viết về Tây Sơn được một số nhà viết sử tham khảo rộng rãi là cuốn của Hoa Bằng: Quang Trung, Nguyễn Huệ, anh hùng dân tộc 1788-1792, Sàigòn,1958.
Tựa đề sách coi Tây Sơn là anh hùng như một khẳng định vị thế của Quang Trung trong lịch sử và nhất là trong lòng người.
Đến lượt Nguyễn Phương với cuốn Việt Nam thời bành trướng: Tây Sơn, Sài Gòn, Khai Trí, 1967
Người ta có thể đồng ý với nhau là tài liệu viết về Quang Trung thì nhiều. Nhưng phải chăng viết giống nhau cũng nhiều?
Trong đó có nên nhìn nhận tính chất viết nhái và thời thượng có phần trổi bật không?
Người trước viết thế nào thì người sau viết lại như thế. Nó chẳng khác gì khi có phong trào “thời thượng triết hiện sinh” sau này.
Phải chăng có một phong trào, một sùng bái Tây Sơn?
Ở miền Nam, tập san Sử Địa là “ấn tượng và biểu tượng” nhất của phong trào này cũng đã trôi theo một dòng chảy “thời thượng” Tây Sơn. Trong đó Tập san Sử Địa đã dành ba số chủ đề bàn về Tây Sơn như tôi đã liệt kê ở trên
Ý hướng thiện chí thì có. Nhưng nay đọc lại thấy một số bài tham khảo viết dựa trên những kiến thức “định sẵn”, phần biện luận một chiều được chú trọng nhiều hơn phần tài liệu sử.
Nghĩa là một tính cánh quá đà trong việc viết sử cả hai phía.
- Hoàng Lê Nhất Thống Chí.
Chúng ta hãy lấy trường hợp cuốn Hoàng Lê Nhất Thống Chí(HLNTC) làm mâu mực. Trong bài Bibliographie Annamite, Gaspardonne đã chỉ ra rằng, ông Ngô Thời Chí, tác giả giả HLNTC là người đương thời với các biến cố chính trị thời ấy, nhưng ông nhớ được bao nhiêu khi viết lại sau mấy chục năm?
Xin ghi lại một vài chứng liệu.. Trong trang 254 có ghi việc Huệ đến Nghệ An có hỏi một cống sĩ ở huyện La Sơn tên là Nguyễn Thiếp. Sau khi Huệ nghe xong:
“ Huệ mừng lắm trả lời:
Ông nói chính hợp ý tôi.
Huệ bèn ở lại 10 ngày, ba đinh bắt một. Chỉ trong chốc lát được hơn vạn người bèn mở cuộc duyệt binh rất lớn”.
Vậy mà trong Tri Tân thì viết lại như sau: Nguyễn Huệ đi qua Nghệ An, Thanh Hóa, lấy thêm tám vạn lính..
Giữa một vạn lính và tám vạn lính là khác xa nhau lắm.
Một vạn còn có chỗ để tin vì còn phải tập luyện, lo lương thực, lo quần áo, lo khí giới, còn lo doanh trại để đụt mưa nắng.
Vậy thì lấy đâu ra võ khí cho 8 vạn quân trong hơn một tuần lễ?
Lại còn cái Dụ miệng của Quang Trung., Ngô Thời Chí làm thế nào nhớ được từng Điều, từng Chữ trong HLNTC, trang 254-255 của Quang Trung?
Bởi vậy, sau này Trương Bá Phát đã đanh phải viết lại như sau trong Trận Đống Đa.
“ Dụ miệng thì làm sao nhớ đủ để lập lại cho đời sau. Thế nên tôi không chép lại mà chỉ nói sơ qua ở đây thôi.”.
Cũng trong bài viết về Trận Đống Đa, Trương Bá Phát đã viết như sau đến đọc lại thấy lố bịch:
“Trong La Sơn phu tử nói phải dùng võng để hai người võng một người, đặng mấy giờ, người nằm giậy và để chỗ cho một trong hai người khiêng lên ngủ, đúng mấy giờ lại người ngủ phải giạy, nhường chỗ cho người chót chưa nghỉ, lên ngủ, cứ luân phiên như vậy mà đến “.
Tạ Chí Đại Truòng cũng đồng thuận với quan điiểm của La Sơn Phu Tử khi ông viết: “ Di chuyển bằng võng có hai người khiêng, đó là điều người ta thường thấy trước mắt, đương thời. Hồi đầu khởi loạn, Tây Sơn cũng thăng tiến bằng cách không đi bộ nữa mà đi ngựa, võng, cáng.” ( Trích Tập San Sử Địa).
Ông biện luận tiếp: Tôn Sĩ Nghị lấy “ khỏe chờ mệt” không ngờ phải đổi lấy biếng lười uể oải chống cường lập hăng say.”
( trích Mâu thuẫn biên giới vượt biên giới trên Tập san sử địa)
Xin trình bày rõ thêm về cuốn HLNTC dưới góc nhìn của Nguyễn Duy Chinh.
“Cuốn HLNTC do nhiều người viết và không thể không nghĩ tới chuyện mỗi người viết một cách. Ngô Thì Chí soạn 7 hồi đầu. đến những hồi sau do Ngô Thì Dụ, Ngô Thì Thiến tục biên.”
Chuyện viết đúng viết sai, viết thừa, viết thiếu, viết tưởng tượng, viết thêm bớt là có thực trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Nhiều người cho rằng HLNTC chỉ là một thứ tiểu thuyết không hơn không kém.”
Theo lời tựa của Ngô Tất Tố đã ghi lại một cách khôn ngoan như sau;
“Riêng cuốn HLNTC, hoặc Annam Thống chí không phải là một sách địa chí, mà chính là một cuốn sách lịch sử tiểu thuyết viết theo lối truyện “Tam Quốc diễn nghĩa của Tàu.
Cuốn sách đó không những được dân chúng tìm đọc mà còn được cả triều đình tham cứu, rồi đến ngày nay thành những sự thật lịch sử.
Nguyễn Duy Chính kết luận:
“Thế nhưng đến một lúc nhìn ra đây chỉ là một cuốn sách để mua vui, người nghiên cứu phải có can đảm gạt bỏ những chi tiết được miêu tả chủ quan, thiếu căn cứ, đối chiếu với tài liệu khác có cơ sở để giai đoạn lịch sử này ăn khớp với các quốc gia khác và cũng nhất quán với chính sử Việt Nam trước và sau Tây Sơn.”
(trich trong tập biên khảo: Nguyên nhân Thanh triều động binh. Tài liệu do tác giả gửi tặng.)
Nhận xét: Nghe ra thì có vẻ cơ trí lắm. Suy luận xem ra chừng mực. Cuộc tiến quân ra Bắc sẽ rút ngắn được thời gian chuyển quân vì lúc nào cũng có người được nghỉ.
Thực tế không phải như vậy. Cứ để ba người cùng đi bộ thì khỏe và nhanh hơn.. Võng như thế mau kiệt sức lắm.
Vả lại, Huệ còn có thời giờ 10 bgày để tuyển quân. Mãi đến 30 tháng chạp, Huệ mới cất quân đi đánh Thăng Long.
- Về số lính giữa quân Thanh và Nguyễn Huệ
Một lần nữa, tài liệu mỗi người nói một cách.
HLNTC, trang 261 viết như sau:”Trận Đống Đa kết thúC vậy. Từ cuối tháng 10 năm Mậu thân 1788 đến tháng giêng năm Kỷ Dậu, không đầy ba tháng, 10 vạn quân Việt Nam đã thắng 50 chục vạn quân nhà Thanh, Không đầy ba tháng, 10 Vạn quân Việt Nam đã thắng 50 chục vạn quân nhà Thanh”.
Tạ Chí Đại Trường đã để lộ ra kẽ hở khi ông viết: “Nổi bật lên trong chống đối là quân Thanh và Tây Sơn. Hai mươi vạn quân Lưỡng Quảng, Vân, Quý ồ ạt tràn sang Thăng Long tạo sinh khí cấp thời cho Lê Mạt tàn tạ đối với sức mạnh rừng rú phương Nam bên dưới đèo Tam Hiệp”.
Phần tôi, không quan tâm đến con số 50 vạn trong HLNTC nay còn 20 vạn với Tạ Chí Đại Trường mà chỉ đặt vấn đề là: các con số đó dựa trên tài liệu nào?
Theo Nguyễn Duy Chính đã biện luận như sau:
“Những giải thích đối với việc tiến quân ra Bắc từ Phú Xuân ra Thăng Long trong khoảng từ 20 đến 40 ngày bằng các kỹ thuật di chuyển như bằng võng, thuyền, voi ngựa thì đều là những tính toán gượng gạo và không thực tế. Vì dù có đi bộ, đi thuyền hay đi ngựa, đi võng thì vẫn có giới hạn nhất định về tốc độ, về sự chịu đựng.( trích Việt Thanh chiến dịch, vua Quang Trung ra Bắc, Nguyễn Duy Chính.)
Từ 50 vạn quân ở trên nay trong bài viết của TCĐT chỉ còn 20 vạn quân. Con số cách biệt kể là quá lớn.
Nguyễn Duy Chính nhận xét:
“Trong 20 vạn quân mà TCĐT đưa ra, không biết có bao gồm bọn tạp dịch, phu đeo không? Bởi vì trong lối tổ chức binh bị của quân Tàu khá chu đáo: Mỗi người lính có một người phu đeo đi theo phục dịch, có toán quân bắc cầu, phạt đường, dò bãy, làm nhiệm vụ hỏa thực, y tế, yểm trợ dịch vụ cốt nuôi dưỡng và tăng cường tiềm lực chiến đấu. Nghĩa là phải nhân lên ít là hai lần số lính tạp dịch so với chính quy?”.
Đó là lối viết sử viết một chiều. Đó cũng là tính chất đặc biệt của một số người viết sử mà đôi vị dù viết rất cảm tình, rất thiên lệch, phong cách viết, ngôn ngữ xử dụng đọc thấy “tự cao” ngoài khuôn khổ mà vẫn tự khoác cho mình vai trò sử gia viết trung thực.
Vì thế nói chung trong các bài tham khảo ấy, hầu như không có mấy bài chú trọng đến tài liệu sử Trung Hoa đời Càn Long. Cũng ít chú trọng đến các tài liệu do phía người Pháp qua những phúc trình và thư từ của các giáo sĩ thừa sai gửi về cho gia đình hoặc tu hội của họ. Tài liệu này dài đến mấy ngàn trang mà một phần nhỏ dành viết về Việt Nam.
Ngày nay, ai muốn đọc đều dễ dàng tham khảo. Nhan dề là: Choix des lettres Edifiantes, Ecrites des missions Etrangers.
- Đi tìm lại một phần sự thực qua tài liệu ngoại quốc: sử liệu qua các thừa sai và sử liệu của Trung Hoa
Tôi nhận thấy các nhà viết sử Hà Nội chẳng những không xử dụng tài liệu của nhà Thanh mà cũng không thấy ai trích dẫn những lá thư thừa sai cũng như Bulletin des amis du vieux Hue.( Viết tắt là B.A V.H). Những tài liệu này đã được người Pháp cho dịch ra tiếng Việt. Chỉ riêng mình Leopold Cadiere đã viết khoảng 250 bài liên quan đến Việt Nam.
Chẳng lẽ những tải liệu này đều vô giá trị cả sao?
(Còn tiếp)
