Nguyễn Văn Lục
Bài viết này của tôi để suy nghĩ và buồn cho một đất nước nhỏ bé, nhưng lại vĩ đại ở nhiều mặt. Đất nước với những người dân hiền lành, đạo đức, chân thật với nhiều nét văn hóa đặc trưng lại rơi vào vòng kìm kẹp của Bắc Kinh mà tương lai nhiều phần nghiệt ngã trên đà suy vong.
Đã hơn nửa thế kỷ kể từ khi nước Trung Hoa xâm chiếm Tibet từ năm 1950. Và đã hơn 30 năm, Ngài Dalai-Lama tìm cách thương lượng với Trung Hoa. Nhưng Bắc kinh vẫn không muốn bất cứ một thương lượng nào.
Phần đức Dalai-lama phân biệt rõ ràng giữa nước Trung Hoa và dân chúng Trung hoa. Ngài không chống đối dân Trung hoa vốn tôn sùng đạo Phật.
Vì thế, trong bài này sẽ còn nhiều câu hỏi khác nữa về số phận đất nước đáng thương này.
Nó sẽ có nhiều câu hỏi về tương lai mà không có mấy câu trả lời. Mà câu hỏi quan trọng nhất đặt ra là: “Quel avenir pour le toit du monde?” (Tương lai nào cho “mái nhà “ của thế giới?)
Ai nhà lãnh đạo nào trên thế giới sẽ trả lời được câu hỏi này? Và sẽ còn nhiều câu hỏi tương tự trong bài viết này.
Đó là đất nước Tây Tạng- Tibet- với một nhà sư huyền thoại nổi tiếng trên toàn thế giới, giải thưởng Nobel Hòa Binh vào năm 1989: Đức Đalai-Lama.
Để đến được đất nước Tây Tạng này trước đây thật không dễ dàng gì. Người ta phải mất 48 giờ đi đường bộ lên đỉnh xuống đèo, gập ghềnh...
Trong những năm gần đây của lịch sử, mọi sự đã đổi khác. Một cuộc hành trình đã rút ngắn thời gian, khởi hành từ Chengdu bên Trung Quốc tới Lhassa Tibet, một quãng đường dài 1700 cây số trên những khúc quanh của những rặng núi nay đi bằng xe lửa với tốc độ 160 đến 200 cây số/giờ. Nay chỉ còn mất 13 giờ.
Công trình xây dựng này do Trung Quốc đầu tư vào năm 2018.
Điều đó cũng cho thấy rằng, ảnh hưởng Trung Quốc theo năm tháng càng đè nặng lên Tây Tạng một cách không chối cãi được. Sự đè nặng và áp lực ấy bằng cách tiệm tiến với số dân Trung Hoa tràn ngập trong tiến trình đồng hóa. Phần nữa một phần giới trẻ Tây Tạng bị choáng ngợp bởi sự hấp dẫn của Trung Quốc với sự hào nhoáng tân tiến, nếp sống mới của một xã hội tiêu thụ mời gọi họ.
Điều này đặt ra một vấn đề rất tế nhị là nay người lãnh đạo tinh thần của Tibet- Đức Dalai Lama nay đã 90 tuổi hiện lưu trú tại Dharamsala bên Ấn Độ. Liệu Ngài có thể hiện diện như một biểu tượng tinh thần tâm linh, là biểu tượng lãnh đạo về mặt chính trị của dân Tibet trên mái nhà của thế giới.
Tương lai nào cho một đất nước? Thành công hay thất bại trước những biến thiên thời cuộc?
Nhưng thời gian sẽ có có câu trả lời, hết năm này sang năm khác, lợi thế sẽ nghiêng về cho Bắc Kinh- vị trí vững chãi của Bắc Kinh trên cao nguyên Tây Tạng ngày càng được củng cố, liệu đất nước Tibet có bảo tồn được văn hóa và ngôn ngữ của Tây Tạng?
Nhiều người có cảm tình đồng cảm vẫn nghĩ ngài Dalai Lama sẽ làm được như những gì mà Mandela, Gandhi hay Luther King đã làm!!
Nhưng theo tinh thần của đức Daila-lama: trước khi biến đổi được thế giới thì điều trước tiên là biến đổi bên trong mỗi con người.
Các du khách nước ngoài nay có dịp nhận ra rằng ở Lhassa nay đã biến mất những bức hình của ngài Dalai Lama mà trước đây trong từng ngôi nhà vốn treo đầy rẫy hình ngài vào thập niên 1990.
Người ta trăn trở tự hỏi: Quá khứ còn hay mất nay còn đâu?
- Cuộc phỏng vấn Đức Đalai Lama năm 2015.
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho phóng viên tập san GEO. Phóng viên đặt một câu hỏi táo bạo: Thưa ngài, ngài có nản chí về vấn đề tôn giáo không?
Câu trả lời của Đức Dalai Lama gây ngạc nhiên, gây sốc cho mọi người khi Ngài cho hay rằng có thể ngài không chỉ định người thừa kế như thông lệ. Ngài nhấn mạnh: A Chacun d’être son propre Lama. (Nơi mỗi người tự mình là một Lama rồi)
- Vài chú thích tóm lược về cuộc đời của Ngài
.
Định mệnh đã đưa đảy một đứa trẻ dân giã sinh năm 1935 trong một ngôi làng nhỏ bé tại Tây Tạng và đặt để đứa trẻ trở thành truyền thừa đời thứ 14. Cậu bé đã được đưa về Lhassa được truyền ngôi là lãnh tụ tinh thần của dân tộc Tibet lúc 4 tuổi rưỡi. Cậu bắt đầu cuộc sống tu trì và học kinh sách cổ truyền của Phật giáo.
Năm 1950, ngài trở thành lãnh đạo cả về chính trị trên đất nước ngài. Nhưng vào năm 1959, Trung Hoa xâm chiếm Tây Tạng đã buộc ngài phải rời Tây Tạng chạy trốn sang Ấn Độ, tại vùng Dharamsala. Và kể từ nay, ngài trở thành biểu tượng cho cuộc kháng cự của người Tây tạng. Ngài đã chu du khắp thế giới để rao truyền lý tưởng chống đối của Tây Tạng
.
Nhưng năm 1950, ngài đã rút lui khỏi vị trí lãnh đạo chính trị và chỉ chú tâm quy ẩn vào vai trò lãnh đạo tinh thần.
Mỗi ngày, ngài dạy từ 3 giờ rưỡi sáng, suy niệm trầm tư một mình đến 8 giờ.
Đối với ngài: “ Chacun est son propre maitre. Le Bouddha est en chacun de nous. C’est pourquoi, l’instituition du Daila-lama n’est pas (important.”
(Mỗi con người làm chủ chính mình. Phật nằm trong căn tinh mỗi con người. Vì thế cơ chế Daila-lama không phải là điều quan trọng.)
Điều này cho thấy sự hiểu biết thâm sâu về Phật pháp. Mỗi lời giảng dạy của ngài là nêu bật được những nét căn tính nhất của Phật giáo.
- Thái độ sống và những điều giảng dạy của Ngài
Mỗi khi các môn sinh của người làm điều sai trái. Thay vì nóng giận, phìền trách, ngài không bày tỏ một sự nóng giận. Bởi vì Phật ở trong ta. Cũng như những điều người giảng dạy sẽ không trở thành quan trọng. Điều quan trọng là mọi người làm chủ được mình, làm chủ được những cảm xúc tiêu cực, ngài nói: các con hãy cười, điều đó làm cho chúng ta thấy nhẹ nhàng.
Người ta có thể nhận thấy nụ cười của ngài ở khắp nơi, trong mọi mọi hoàn cảnh, trong mọi tiếp xúc với đại chúng ở mọi tình huống.
Ngài cũng cho rằng: nhiều người trong chúng ta sống trong một xã hội vật chất mà người ta chỉ nghĩ tới tiền.
Tuy nhiên, tiền bạc và quyền lực chỉ là những mục đích ngắn hạn..Bởi vì khi chết, chỉ có sự bình an trong tâm hồn là điều đáng kể.
Vì thế ngài nghĩ rằng Staline hay Hitler chẳng hạn không thể chết sung sướng, mặc dầu họ có sức mạnh và quyền thế!
(Xin phép ngài cho phép con hài tên vài người không khác gì những tên đồ tể trên như Tập Cẩn Bình, Hồ Chí Minh, Tô Lâm.)
- Cái nhìn của Bắc Kinh về đất nước Tibet..
Dưới con mắt của Bắc Kinh, chúng ta chỉ là loài quỷ dữ. Nghèo nàn và lạc hậu. Tibet cần được phát triển kinh tế để tiến lên, không phải sự độc lập mà sự tự chủ trong lòng nước Trung Hoa.
Theo ngài Daila-Lama: Có thể, trước đây, vào các thế kỷ thứ VII đến thứ IX, đất nước Tibet là một đất nước rất hùng mạnh và tự chủ.
Nhưng đó là chuyện quá khứ mà mục đích chính là phải hướng về tương lai.
Vì thế, chúng ta cần noi gương cộng đồng Âu Châu như một tấm gương phấn khởi vào nửa đầu thế kỷ XX, nước Pháp và Đức được coi như những kẻ thù truyền kiếp đáng nguyền rủa với những cuộc chiến tranh bên nọ chống bên kia.
Nhưng rồi họ nhận ra rằng sự hợp tác đem lại những lợi ích thiết thực cho cả đôi bên. Tôi thật tán thưởng những điều ấy.
Trong khi đó, người Trung Hoa nhìn Tibet với một thái độ và một đường lối cứng rắn mà văn hóa Tibet như nguồn cội của sự chia rẽ trong suốt hơn 60 năm nay..và họ tìm cách gây ảnh hưởng trên đất nước Tibet Mặc dầu vậy, họ đã không thành công trong việc thu phục lòng người.
Dân Tibet vẫn khẳng định một lòng với lương tâm đề kháng bất khoan nhượng của họ.
- Hai bộ mặt của Tibet
Ngày nay, người ta nhận thấy có hai bộ mặt của Tibet.
Một bộ mặt với cái vẻ bên ngoài đang cho thấy trên đà phát triển cực độ với sự tràn ngập dân di cư và khách du lịch Trung hoa.
Mặt kia, mặt tối của Tibet dưới sự kiểm soát khắt khe của chính quyền Trung quốc.
Trong khu đã được đổi mới Barkhor, binh lính Trung Quốc đi lại tuần tra kiểm soát trên quảng trường trước đền thờ Jokhang.
Nơi đây du khách lẫn lộn với những người hành hương, chen lẫn với những cửa hàng của Trung quốc thay thế cho những khu phố trước đây của người Tibet.
Ở vùng Potala, cung điện cổ của Đức Dalai-lama nay trở thành bảo tàng, sự biến động khắp nơi với những người trẻ Tibet ở đô thị với điện thoại di động cầm tay lẫn lộn với khách du lịch Trung hoa.
Sự đồng hóa của thiểu số dân Tibet với Trung Hoa coi như đã thành công bằng cách thương mại hóa văn hóa Tây Tạng dưới bàn tay bọc nhung là bàn tay bọc sắt của Trung Quốc.
Hoặc dùng đường bộ hoặc máy bay, đã có 8 triệu khách du lịch đã đến Lhassa vào năm 2016 và họ trù liệu sẽ có 12 triệu vào năm 2020.
Đó là chính sách địa chính trị: Sự thuộc địa hóa và đồng hóa bằng dân số.
Người ta tinh có 7% dân số là người Hán. Ở Lhassa, người ta tính có đến 30% đến 40% theo một vài nguồn tin.
Ban đêm ở Lhassa, cảnh sát Trung Quốc đi tuần tra trang bị súng ống.. Cộng thêm những nhân viên công lực hoặc những kẻ điểm chỉ viên mà sự hiện diện của họ ở khắp nơi.
Phần khách du lịch Âu Châu được cô lập ở trong các khách sạn dành cho người ngoại quốc để dễ kiểm soát.
- Phần giáo dục trẻ con.
Chính sách giáo dục là điều không thể thiếu trong bất cứ chế độ nào. Người Trung Quốc đã mở các trường học mà chủ yếu là dạy tiếng Mandarin ( tiếng Quan thoại). Có tất cả 1850 trường đã được mở ra để dạy tiếng Mandarin. Chúng được học và chỉ nói tiếng Mandarin.. Một dấu hiệu cho thấy một sự thuần hóa có bài bản xóa sạch tiếng bản địa mà cùng lắm chỉ còn là thứ ngôn ngữ phụ thứ hai.
- Một khách du lịch như một chứng nhân.
Về việc này, một chứng nhân đã đi tham quan Tibet nhận xét và chia xẻ. Bà Elizabeth đã có lần than thở và cảm thấy buồn lòng về tương lai Tibet. Bà nhận xét, ở thành phố cho thấy càng ngày càng có nhiều giới trẻ nói chuyện với nhau bằng tiếng Quan thoại.
Bà cũng kể những chuyến đi thăm các vùng xa xôi chỉ với một tài xế, trên đường 219, con đường leo lên về phía Bắc, vùng Xinjiang và sa mạc
Takla-Makan với những vùng đồi núi như một”sự thần diệu của Tibet” với khung cảnh thiên nhiên bao la, bát ngát với những tảng băng hà lấp lánh dưới ánh sáng mặt tròi, những hồ nước màu lam thẫm, ở đó treo rất nhiều cờ để cầu nguyện.
Có nơi là cánh đồng cỏ với những con bò Tây Tạng đang gậm cỏ, những động của loài linh dương (dê) và những con lừa hoang dã.
Đó là những cảnh trí đẹp mê hồn, lộng lẫy bao la không ở đâu có được.
Người ta phải leo lên những ngọn đồi cao đến 5000 mét trên không, rồi tới ngọn núi Katlash, trung tâm của vũ trụ đối với giới phật tử, con đường nối với quang cảnh đầy quyến rũ của mảnh đất màu đỏ son, nơi xuất phát cổ xưa của Phật giáo mà người ta tin tưởng rằng mình là người duy nhất có mặt trên thế giới này.
Nay còn lại những đoàn lữ hành tiếp tục chảy về Jokhang chiêm ngưỡng và khám phá Tây Tạng.
Cho đến một lúc nào đó một tương lai không xa phải ngưng lại.
Đến lúc ấy chỉ còn lại trơ chọi những rặng núi sẽ khóc!!
- Một chính sách phát triển nhằm tài trợ những thành phần không phải là người Tibet.
Người ta còn nhớ những cuộc biểu tình phản đối chính quyền ngày 14 tháng ba năm 2018.
Các nhà sư Tây tạng tại Lhassa đòi tự do tôn giáo và độc lập cho Tibet. Phong trào chống đối Trung Quốc đã lan rộng khắp nơi. Họ đập phá các cửa hàng, các trường học và nhà thương.
Các giới trẻ đã tham gia các cuộc biểu dương mà kết quả là có 203 người thiệt mạng và 1000 bị thương, chưa kể hàng ngàn người đã bị bắt giam..
Các vùng nông thôn đã cấm các phóng viên ngoại quốc. Chính quyền đã treo các loa phóng thanh tại các tu viện. Nay người ta nghi ngờ đã có những nhà sư giả cũng như những du khách trung hoa giả.
Trước tình trạng ấy, chính quyền Bắc Kinh tuyên truyền hạ tầng cơ cấu phát triển như một cách hạ nhiệt: điện hóa khắp nơi, xây dựng thêm 6 phi trường, tuyến đường sắt nối Lhassa với Golmud trong tỉnh Qinghai dài 1142 cây số..Mỗi ngày có 50 chuyến bay nối liền Lhassa với các tỉnh thành Trung Hoa.
Nhưng dưới cái bề ngoài phát triển ấy, người dân Tây tạng hoàn toàn lệ thuộc vào sự tài trợ của Bắc Kinh.
Nói chung, sự tài trợ ấy không nhằm tới những cư dân Tây Tạng.
Những nông dân Tây Tạng vẫn là thành phần bị loại trừ khỏi sự phát triển Tibet.
- Vùng tự trị của Tibet (Rat) vừa bị cô lập và vừa thành vùng khai thác cúa Bắc Kinh
Theo tác giả Jean Christophe Servant nay thì đường sắt được xây dựng, nhiều đập, nhiều phi trường và ngay cả một khu trượt ski vừa được khánh thành vào năm 2020.. với sự đóng góp tài trợ rộng rãi từ Bắc Kinh.
Bởi vì vùng này đem lại nhiều tài nguyên thiên nhiên dồi dào đến vô giá như chất lithium .
Năm 2020 xây dựng một tuyến đường xe lửa thứ hai nối vùng RAT với thế giới bên ngoài. Nhiều dự án các đập thủy điện làm dấy lên mối lo ngại tại các nước láng giềng như Ấn Độ.
Những dòng nước được coi như sống còn cho một 1,4 tỉ dân chúng của 10 sắc dân sống dưới chân cao nguyên Tibet.. Chăng hạn 75% đất Ả Rập ở phía Bắc nước Tàu tùy thuộc vào sự tưới tiêu của các dòng sông từ mái nhà của thế giới.
Nhiều trận lụt đã xảy ra cho các dân thiểu số Tibet.
Đối với dân Tibet hầm mỏ và các đập là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự tàn phá cho dân chúng trong vùng.
Chưa kể Bắc Kinh đã cưỡng bức gom 2 triệu người dân Tibet du mục vào các ngôi nhà mới xây dựng.
Sau khi chịu đựng sự phát triển theo kiểu Bắc Kinh, người dân Tibet lo ngại họ là nạn nhân trực tiếp của chính sách môi trường của Bắc Kinh?
Chưa kể một dự án thiết lập một hệ thống công viên tự nhiên lớn nhất thế giới.
Mọi điều xem ra không mấy trôi chảy cho phía Tây của nước Tàu!!!
Trong khi tại tỉnh Quighai, các dân du mục vẫn hướng về mảnh đất hành hương tôn giáo mà không mấy băn khoăn về chính sách của Bắc Kinh.
- Vài dẫn chứng thay cho phần kết luận
Hình ảnh đưc Dalai-la mà nhiều người vẫn coi ngài như một Phật sống.
Những lời giáo huấn của Ngài vẫn thu hút hàng ngàn người lắng nghe, năm 2003, ở vùng Diskit, Ladakh.
Sự uyên bác và đạo hạnh của ngài sẽ là nguồn động lực tinh thần nuôi dưỡng thế giới như dòng sông thì thầm bên trong của lương tâm, con người mặc dầu những biến thiên chính trị đang gây xáo trộn.
Nay ngài đã mừng tuổi thọ 90 tuổi. Vấn đề là ai sẽ là người kế nhiệm di sản của ngài?
Ngài Dalai-lma đã nghĩ đến điều này và sẽ tham kiến những trưởng lão tinh thần cao cấp của Tibet để có thể đưa ra một quyết định ai sẽ là người kế nhiệm tương lai?
Trong khi một số người Tibet trẻ băn khoăn và lo lắng chờ đợi đấng Daila mới!!
Trong khi đó thì Bắc Kinh cũng thiết lập một ủy ban để đòi hỏi được chọn một người theo như ý muốn của họ.
